Chiết tách saponin hiếm trong sâm Lai Châu bằng công nghệ bào chế đặc biệt
Tại Hội thảo khoa học "Sâm Lai Châu - Tinh hoa đại ngàn Tây Bắc", ngày 19/9, do UBND tỉnh Lai Châu chủ trì, câu chuyện nâng tầm dược liệu bản địa bước sang một bước ngoặt mang tính bước ngoặt.
Dược sĩ cao cấp Nguyễn Văn Toanh (Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Dược phẩm Bạch Mã Vạn Xuân) đã công bố báo cáo chuyên sâu về chế phẩm sâm xử lý nhiệt. Phương pháp này trực tiếp can thiệp vào cấu trúc hóa học, làm giàu hệ thống saponin hiếm nhằm mục tiêu hỗ trợ phục hồi phẫu thuật và điều trị ung thư.
![]() |
| Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu Hà Trọng Hải trao Biên bản ghi nhớ hợp tác cho các đơn vị. |
Đại phẫu cấu trúc hóa học bằng quy trình "Cửu chưng, cửu sái"
Sâm Lai Châu sở hữu hệ khung hoạt chất độc đáo, nhưng việc tiêu thụ dưới dạng tươi hoặc sấy khô truyền thống đang lãng phí phần lớn giá trị y sinh học. Nhằm phá vỡ giới hạn này, Dược sĩ Nguyễn Văn Toanh giới thiệu ứng dụng phương pháp "cửu chưng, cửu sái" (hệ thống 9 lần hấp, 9 lần sấy liên hoàn) tích hợp hệ thống gia nhiệt công nghiệp.
Nền tảng hóa học của hướng đi này dựa trên nguyên lý nhiệt phân. Khi dược liệu được gia nhiệt liên tục ở ngưỡng nhiệt độ từ 120 độ C trở lên, các saponin thuộc nhóm protopanaxadiol có trọng lượng phân tử lớn như Rb1, Rb2, Rc và Rd bắt đầu đứt gãy. Liên kết gốc đường tại vị trí C-20 bị cắt bỏ, tạo ra sự chuyển hóa thành hoạt chất Rg3. Quá trình gia nhiệt tiếp tục ép Rg3 trải qua phản ứng khử nước (dehydration) mạnh mẽ, hình thành các liên kết đôi để sinh ra nhóm hoạt chất cực hiếm là Rg5 và Rk1.
Cơ chế chuyển hóa này giúp chế phẩm sâm Lai Châu sở hữu hàm lượng Rg3, Rg5 và Rk1 cao vượt trội so với các sản phẩm hồng sâm truyền thống trên thị trường. Số liệu kiểm nghiệm thực tế từ báo cáo cho thấy kết quả đột phá: Mức định lượng Rg5 đạt 7,46% (vượt tiêu chuẩn cơ sở 7,0%), hoạt chất Rg3 duy trì trên 1,0% và Rd đạt trên 4,0%. Sự xuất hiện của nhóm saponin phân tử nhỏ giúp hoạt chất dễ dàng vượt qua màng tế bào ruột, thẩm thấu trực tiếp vào hệ tuần hoàn máu và gia tăng tối đa mức độ sinh khả dụng.
![]() |
| Dược sỹ cao cấp Nguyễn Văn Toanh - Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần dược phẩm Bạch Mã Vạn Xuân trình bày báo cáo nghiên cứu tại Hội thảo khoa học |
Giải mã bài toán di căn khối u và hội chứng đa kháng thuốc
Theo dược sĩ Toanh, tính đột phá của nhóm saponin hiếm được tham chiếu trực tiếp vào hai bài toán phức tạp nhất của nền y học lâm sàng trong phẫu thuật ung thư. Thứ nhất là rủi ro di căn hậu phẫu. Trong quá trình can thiệp dao kéo bóc tách khối u, các tế bào ung thư lân cận dễ dàng lọt vào dòng máu. Tại đây, chúng lập tức tiết ra các tín hiệu hóa học thu hút tiểu cầu bao quanh tạo thành một lớp "áo giáp" ngụy trang. Lớp màng này giúp tế bào ung thư qua mặt hệ thống đại thực bào và tế bào miễn dịch T, âm thầm di chuyển và bám rễ tạo thành ổ di căn mới.
Thứ hai là tình trạng đa kháng thuốc (Multi-Drug Resistance - MDR) trong hóa trị. Màng tế bào ung thư sở hữu các "bơm đẩy" (efflux pumps) hoạt động mạnh mẽ, liên tục đào thải các phân tử thuốc hóa trị ra khỏi tế bào trước khi thuốc kịp phát huy tác dụng tiêu diệt.
Theo phân tích của chuyên gia, nhóm saponin hiếm (Rg3, Rg5) thể hiện cơ chế dược lý tác động kép. Các hoạt chất này làm suy yếu khả năng kết tập tiểu cầu quanh tế bào ung thư, lột bỏ lớp ngụy trang và phơi bày tế bào ung thư trước hệ miễn dịch tự nhiên. Đồng thời, cấu trúc phân tử của Rg5 đóng vai trò chất ức chế trực tiếp các bơm tống thuốc, khóa chặt phân tử hóa trị bên trong tế bào đích. Bên cạnh đó, chế phẩm sâm xử lý nhiệt còn hỗ trợ kích thích tái tạo mô, thúc đẩy quá trình cầm máu và làm lành vết thương hậu phẫu.
Sự thành công của Rg3 đã được minh chứng trên bình diện quốc tế. Tại Trung Quốc, viên nang Shenyi với thành phần lõi là hoạt chất Rg3 đã được phê duyệt làm thuốc kê đơn chuyên biệt. Dữ liệu từ một phân tích gộp (meta-analysis) trên 18 thử nghiệm lâm sàng độc lập, bao gồm 1.531 bệnh nhân ung thư tiêu hóa, khẳng định sự kết hợp giữa Rg3 và phác đồ hóa trị tiêu chuẩn giúp cải thiện rõ rệt tỷ lệ đáp ứng khối u và kéo dài tuổi thọ người bệnh.
Tuy nhiên, giới chuyên môn cũng thẳng thắn nhìn nhận sự khác biệt giữa hoạt chất tinh chiết đơn lẻ (Rg3 nguyên chất) và một chế phẩm sâm đa thành phần. Việc áp dụng cơ học kết quả của Shenyi vào các chế phẩm bào chế thô sơ là hành động thiếu cơ sở khoa học.
Kỷ luật quản trị từ Bộ Y tế: Lấy chất lượng làm trọng tâm
Dưới góc độ quản lý vĩ mô, định hướng thương mại hóa sâm Lai Châu đang nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ Chính phủ. Phát biểu chỉ đạo tại hội thảo, Tiến sĩ Vũ Mạnh Hà (Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế) tái khẳng định tầm quan trọng của Quyết định 787/QĐ-TTg (2017) công nhận Sâm Việt Nam là sản phẩm quốc gia, và Quyết định 611/QĐ-TTg (2023) phê duyệt Chương trình phát triển Sâm Việt Nam tầm nhìn 2045. Hiện tại, tỉnh Lai Châu đang triển khai mục tiêu phủ xanh 3.000 ha vùng nguyên liệu sâm vào năm 2030.
![]() |
| Ông TS. Vũ Mạnh Hà, UVDK BCH TW, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế trực tiếp chỉ đạo tại Hội thảo khoa học "Sâm Lai Châu - Tinh hoa đại ngàn Tây Bắc" |
“Sự phát triển của sâm Lai Châu tuyệt đối không đong đếm bằng tốc độ mở rộng diện tích cơ học. Yếu tố định đoạt quy mô ngành hàng nằm ở khả năng làm chủ nguồn gen giống, thiết lập quy trình canh tác chuẩn hóa, minh bạch bằng chứng khoa học và xây dựng hệ thống thương hiệu vững chắc”, Thứ trưởng Vũ Mạnh Hà nhấn mạnh.
Lãnh đạo Bộ Y tế chỉ ra những điểm nghẽn hiện tại của địa phương. Mô hình canh tác vẫn mang nặng tính manh mún, phân tán; nguồn cung hạt giống chất lượng cao rơi vào tình trạng khan hiếm; sợi dây liên kết chuỗi giá trị giữa nhà nông, nhà khoa học và doanh nghiệp bộc lộ sự lỏng lẻo. Hệ quả tất yếu là năng lực chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm chưa bắt kịp tiềm năng tài nguyên.
Nhằm khắc phục triệt để lỗ hổng này, Bộ Y tế đề nghị tỉnh Lai Châu khẩn trương thiết lập ranh giới vùng trồng, đẩy nhanh tiến độ cấp mã số định danh, đăng ký chỉ dẫn địa lý và tích hợp hệ thống truy xuất nguồn gốc số hóa. Mọi hoạt động mở rộng diện tích bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn Thực hành tốt nuôi trồng và thu hái dược liệu (GACP-WHO).
Đồng hành cùng địa phương, Bộ Y tế chính thức giao nhiệm vụ cho Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam tiến hành nghiên cứu, định lượng chi tiết dược tính sâm Lai Châu. Dữ liệu này tạo lập nền tảng pháp lý vững chắc để đưa dược liệu bản địa vào Dược điển Việt Nam, chính thức công nhận sâm Lai Châu là nguồn nguyên liệu hợp pháp phục vụ kê đơn tại hệ thống bệnh viện y học cổ truyền trên toàn quốc. Tuy nhiên, lộ trình tiếp thị cần tiến hành thận trọng, tránh tình trạng quảng bá thổi phồng công dụng khi chưa hoàn thiện năng lực chế biến lõi.
![]() |
| Cây sâm đang mùa quả chín đỏ dưới tán rừng, nằm trong khu vực được rào lưới bảo vệ. |
Y học thực chứng: Chìa khóa mở cửa thị trường
Dược sĩ cao cấp Nguyễn Văn Toanh khẳng định chặng đường thương mại hóa chế phẩm sâm xử lý nhiệt bắt buộc phải trải qua "bộ lọc" y học thực chứng.
Lộ trình nghiên cứu của doanh nghiệp sẽ tập trung giải quyết hai mục tiêu cốt lõi: Hỗ trợ phục hồi thể trạng hậu phẫu thuật khối u và can thiệp cơ chế đa kháng thuốc (MDR). Tại giai đoạn tiền lâm sàng, nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là chuẩn hóa vạch phổ hàm lượng hoạt chất bằng hệ thống Sắc ký lỏng hiệu năng cao kết hợp khối phổ (HPLC/LC-MS). Tiếp đó, chế phẩm phải vượt qua các bài kiểm tra độc tính cấp, độc tính bán trường diễn để khẳng định độ an toàn tuyệt đối, đồng thời đánh giá hiệu lực can thiệp trên các mô hình tế bào ung thư thực nghiệm.
Chuyên gia dược nhấn mạnh, dữ liệu tiền lâm sàng hoàn toàn không phải là giấy phép để tuyên bố công dụng chữa trị hay ngăn ngừa di căn ung thư. Sản phẩm chỉ chính thức bước vào phác đồ điều trị y tế khi vượt qua các chu kỳ thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm, đánh giá trên cỡ mẫu người bệnh đủ lớn và được Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) cấp phép lưu hành hợp pháp. Việc sử dụng bất kỳ chế phẩm hỗ trợ nào trên bệnh nhân ung thư đều phải tuân thủ sự chỉ định giám sát chặt chẽ từ bác sĩ chuyên khoa.
Tin khác



