Đưa cá kho của nông dân Hải Phòng thành sản phẩm OCOP chất lượng
![]() |
Bại không nản
Sinh ra tại làng quê có nhiều núi đá vôi (xã Lại Xuân, huyện Thủy Nguyên, nay là xã Việt Khê, thành phố Hải Phòng) nên anh Ngô Văn Đón đã có nhiều năm làm lò vôi thủ công. Tuy nhiên năm 2020 thực hiện chính sách của Đảng, nhà nước và thành phố Hải Phòng về việc xóa bỏ lò vôi thủ công trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, anh Đón cũng nhiệt liệt hưởng ứng và tuân thủ chính sách này. Khi đó có một số anh em, bạn bè mách anh nuôi tôm để xuất bán trong nước và xuất khẩu sang Trung Quốc. Anh Đón đã mạnh dạn bắt tay đầu tư nuôi tôm với toàn bộ số vốn tích cóp cả một thời trai trẻ. Nhưng do không hiểu gì về con tôm và nguồn nước nên anh đã thất bại.
Năm 2024 anh Đón quen anh Nguyễn Văn Thạnh ở trong Cần Giuộc, là giảng viên đại học thủy sản Cần Thơ. Anh Đón chia sẻ muốn phát triển nuôi trồng thủy sản tại quê hương, cạnh con sông Phi Liệt. Thấy sự tâm huyết của anh Đón nên anh Thạch Thạch chỉ cho anh con đường nuôi cá. Trở về quê hương anh Đón trăn trở với kĩ thuật nuôi cá nhưng có quá nhiều loại cá:Trôi, trắm, chép, mè, rô phi...khiến anh Đón đắn đo.
Tuy nhiên sau một hồi tìm hiểu anh Đón thấy cá trê, trạch là loại cá dễ nuôi, dễ chăm sóc, sức sống khỏe, đồng thời gặp được nông dân được mệnh danh “vua trạch” tại vùng đất Nam Định nên anh đã đã mạnh dạn chọn 2 loại cá này để thử sức. Được “vua trạch” hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá: Từ giống cá, màu nước, lượng cám, hệ thống phun nước tạo oxy...
Anh Đón cho biết khi bắt tay nuôi cá thì gia đình, họ hàng đều can anh vì nuôi cá không hề đơn giản, cường độ anh lao động căng. Từ công nhân lò gạch sang nuôi cá không có kĩ thuật nên không làm được nên một số người đã bỏ cuộc giữa chừng. Tuy nhiên vì yêu mến nông nghiệp, yêu mến con cá nên anh Đón đã ăn ngủ, vui buồn cùng cá nên anh Đón đã tạo được những kết quả nhất định.
![]() |
Làm để thấy cuộc đời có ý nghĩa
Theo anh Đón sự cố gắng của anh không hẳn vì cơm áo của bản thân mà một phần vì công ăn việc làm của một số anh em đã gắn bó từ ngày còn làm lò vôi, đồng thời muốn tạo ra công ăn việc làm cho bà con, khẳng định giá trị bản thân để có kinh phí hỗ trợ những người khó hơn mình trong làng xã.
Anh Đón đã đầu tư gần 1 ha chia thành 3 ao nuôi cá trạch, trê với hệ thống lọc nước, bơm ô xi, máy bắn cám hiện đại. Sau khi cải tạo ao, nuôi cá trê, cá trạch anh Đón đã thấy có hiệu quả và thấy được tương lai, ánh sáng ở lĩnh vực này.
Cá trê, cá trạch khỏe, ít bệnh nhưng phải luôn luôn để ý màu nước, lượng cám cho cá ăn. Nếu dư cám sẽ thối nước. Một số ao nuôi màu nước xanh lè nhưng ao cá anh Đón luôn có màu phù sa, sạch như nước sông. Nước từ sông sau khi được xử lý khử các hóa chất phải nuôi vi sinh, sau đó là hệ thống thay nước tuần hoàn nên nước mới sạch, không ô nhiễm, cá, khỏe mạnh, lớn nhanh không bệnh.
Với diện tích trên anh Đón ước tính sẽ thu hoạch được 20 tấn cá. Nhưng nếu nuôi thả đặc hơn và khai thác hết năng suất của các ao, sản lượng có thể thu hoạch tối đa 60 tấn cá/ha.
Cá thông thường có ba giai đoạn nuôi, giai đoạn thứ nhất là nuôi bằng cá bột (cá mới nở), giai đoạn thứ hai là nuôi cá hương (cá to bằng chân hương) thứ ba là giai đoạn cá thành phẩm xuất bán.
Nếu có ao thì nuôi cá bột, khi nuôi khoảng 1 tháng thì sẽ sang giai đoạn cá hương, nếu nuôi được từ cá bột thì lợi nhuận sẽ tăng, chi phí con giống giảm đi rất nhiều so với nuôi cá hương. Theo anh Đón: Nếu nuôi 3 ao để đạt 20 tấn cá thành phẩm thì anh phải bỏ ra 10 triệu đồng tiền cá bột nhưng nuôi cá hương thì phải bỏ ra khoảng 100 triệu đồng tiền giống. Giữa 2 giai đoạn cá này phụ thuộc rất nhiều vào kỹ thuật, trình độ mình nuôi vì không phải ai nuôi cá bột cũng thành công.
Khi cá thành phẩm lại chia thành 2 giai đoạn tiếp theo, phụ thuộc vào thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng. Nếu bán cho nhà hàng chiên giòn quấn lá lốt thì con cá không cần to, chỉ bằng ngón tay là xuất bán. Nhưng nếu để kho thì để đạt 20 con/kg thì cần thời gian khoảng 9 tháng mới có thể thu hoạch.
Cá to, năng suất cao, tuy nhiên khi cá đến kỳ thu hoạch thì bài toán của người trồng trọt, chăn nuôi lại lặp lại đó là: mất giá. Trước đó loại cá trạch to có giá 150 ngàn đến 180 ngàn/kg thì nay giảm xuống còn một nửa.
Nhận thấy nếu nuôi cá thuần túy, nuôi xong bán thẳng cho thương lái thường dễ bị ép giá, không có hiệu quả kinh tế nên anh Đón đã nảy ra ý tưởng chế biến thành những niêu cá kho nồi đất, đưa cá đến tận mâm cơm người Việt.
Ngoài 3 ao cá với diện tích 1 ha, anh Đón còn có vườn cây ăn trái, rau để tạo mô hình tự cấp, tự túc khép kín. Cá khi được bắt lên sơ chế sạch, anh Đón đã dùng những nguyên liệu được trồng chính trong vườn nhà: chuối xanh, riềng, sả, ớt... để kho cá.
Từ một ông chủ nay anh Đón cùng công nhân đã làm cá, ướp cá, sơ chế các nguyên liệu kho cá thành thục. Cá bắt lên được ướp với gia vị cho ngấm mắm, muối sau đó kho kĩ khoảng hơn 10 tiếng để nục xương ăn vừa béo, vừa bùi, vừa đượm vị đưa cơm.
Những nồi cá kho đầu tiên được anh Đón đưa sang nội thành Hải Phòng và bà con trong làng, ngoài xã đón nhận. Thông qua một số bạn bè cá kho anh Đón đã theo xe lên Sơn La, Tuyên Quang. Hiện tại anh Ngô Văn Đón đang tích cực cải tạo ao, nâng cao năng suất nuôi cá đồng thời không ngừng lắng nghe góp ý về chất lượng nồi cá kho với mong muốn sản phẩm đạt chất lượng OCOP và được người tiêu dùng đón nhận.
Tin khác

