2021–2025: Từ giá trị địa phương đến sức bật nông thôn
![]() |
| Các sản phẩm OCOP đang góp phần đưa giá trị đặc trưng của từng địa phương trở thành thương hiệu hàng hóa trên thị trường. |
Đến tháng 12/2025, Chương trình OCOP đã được triển khai tại 34/34 tỉnh, thành phố, với 18.234 sản phẩm đạt từ 3 sao trở lên, tăng 13.756 sản phẩm so với năm 2020. Trong đó, sản phẩm đạt 3 sao chiếm 71,4%, sản phẩm 4 sao chiếm 27,7% và có 126 sản phẩm đạt 5 sao - cấp độ cao nhất trong hệ thống phân hạng OCOP. Những con số này cho thấy OCOP đã từng bước đưa đặc sản địa phương thoát khỏi phạm vi sản xuất nhỏ lẻ, trở thành những sản phẩm có tiêu chuẩn, thương hiệu và khả năng cạnh tranh trên thị trường.
![]() |
| Giai đoạn 2021–2025, OCOP ghi nhận bước phát triển mạnh mẽ với hơn 18.000 sản phẩm được công nhận đạt chuẩn từ 3 sao đến 5 sao. |
Xét theo khu vực, Đồng bằng sông Hồng đang dẫn đầu về số lượng sản phẩm OCOP với 32,3%, tiếp đến là Đồng bằng sông Cửu Long (22,2%), Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (18%), Miền núi phía Bắc (15,9%) và Đông Nam Bộ (6,5%). Sự phân bố này phản ánh rõ lợi thế vùng miền, khi mỗi địa phương khai thác những giá trị đặc trưng về nông nghiệp, làng nghề, tài nguyên bản địa để phát triển sản phẩm riêng.
![]() |
| Mỗi sản phẩm OCOP là sự kết tinh từ lợi thế tài nguyên, văn hóa và tri thức bản địa của từng vùng miền. |
Về cơ cấu ngành hàng, thực phẩm tiếp tục là nhóm sản phẩm chủ lực, chiếm 78,3%, phản ánh thế mạnh của nền nông nghiệp Việt Nam và nguồn nguyên liệu phong phú tại các địa phương. Bên cạnh đó, nhóm thủ công mỹ nghệ chiếm 9,1%, đồ uống chiếm 8,3%, còn dược liệu, sinh vật cảnh và du lịch chiếm 4,3%. Sự đa dạng này cho thấy OCOP không chỉ là câu chuyện của nông sản mà còn mở rộng sang các lĩnh vực gắn với văn hóa, nghề truyền thống và kinh tế trải nghiệm.
Song hành với sự phát triển của sản phẩm là sự lớn mạnh của cộng đồng chủ thể tham gia. Đến nay, chương trình đã thu hút 9.820 chủ thể, trong đó hợp tác xã chiếm 33,4%, hộ sản xuất và hộ kinh doanh chiếm 32,6%, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 26,5%, còn lại là các tổ hợp tác. Đặc biệt, đã có 3.280 hợp tác xã sở hữu sản phẩm OCOP, từng bước chuyển đổi từ mô hình sản xuất đơn thuần sang xây dựng thương hiệu, phát triển chuỗi giá trị và tiếp cận thị trường hiện đại.
![]() |
| Các hợp tác xã, hộ sản xuất và doanh nghiệp nhỏ là lực lượng nòng cốt đưa sản phẩm OCOP từ ý tưởng địa phương đến thị trường. |
Không chỉ tạo ra sự thay đổi về số lượng, OCOP còn mang lại những tác động rõ nét về kinh tế – xã hội. Theo đánh giá chương trình, 60,7% chủ thể ghi nhận doanh thu tăng, với mức tăng bình quân 17,6%/năm; 55,6% sản phẩm tăng giá bán sau khi được chứng nhận, mức tăng trung bình khoảng 12,2%. Bên cạnh đó, gần một nửa số chủ thể (48,3%) đã xây dựng được vùng nguyên liệu theo chuỗi giá trị, trong khi 57,9% chủ thể tham gia hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện lợi và thương mại điện tử, mở rộng đáng kể khả năng tiếp cận người tiêu dùng.
Đáng chú ý, OCOP còn tạo ra những giá trị xã hội bền vững khi 40% chủ thể do phụ nữ làm chủ, 19,6% chủ thể thuộc đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng khó khăn, góp phần thúc đẩy sinh kế và giảm nghèo bền vững ở nhiều khu vực nông thôn. Chương trình cũng tạo ra gần 22.000 việc làm mới và tổ chức đào tạo cho hơn 70.000 lượt cán bộ, chủ thể OCOP trong giai đoạn 2021–2025, qua đó nâng cao năng lực quản trị, sản xuất và phát triển thị trường.
![]() |
| Từ những sản phẩm mang dấu ấn địa phương, OCOP đang từng bước mở rộng thị trường, xây dựng thương hiệu và nâng cao giá trị hàng Việt. |
Những kết quả đạt được trong giai đoạn 2021–2025 cho thấy OCOP đã vượt qua vai trò của một chương trình phát triển sản phẩm địa phương, trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế nông thôn. Từ những giá trị bản địa, chương trình đang từng bước tạo nên sức bật mới cho cộng đồng sản xuất, góp phần đưa thương hiệu Việt tiến xa hơn trên thị trường trong nước và quốc tế.
Tin mới hơn
Tin khác




