Cao Bằng siết mã số vùng trồng, gắn sản xuất với đầu ra
Mã số vùng trồng được sử dụng để định danh khu vực sản xuất, phục vụ quản lý dịch bệnh, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc nông sản. Để duy trì mã số, người sản xuất phải tuân thủ các yêu cầu về quy trình canh tác, ghi chép nhật ký, sử dụng vật tư nông nghiệp và kiểm soát sản phẩm sau thu hoạch.
![]() |
| Người dân Cao Bằng chăm sóc vùng sản xuất nông nghiệp. |
Tại xã Nguyễn Huệ, gia đình bà Đàm Bích Phương ở thôn Án Lại được cấp mã số vùng trồng dong riềng trên diện tích 3.500 m² từ năm 2025. Thực hiện đúng quy trình, gia đình thu được hơn 16 tấn củ tươi, đủ nguyên liệu cho sản xuất và thu mua thêm nguyên liệu bên ngoài để làm hơn 10 tấn miến dong mỗi năm.
Sản phẩm miến dong của gia đình bà đang hoàn thiện thủ tục chứng nhận OCOP 3 sao, hướng tới mở rộng kênh tiêu thụ. Mô hình này góp phần thúc đẩy xã Nguyễn Huệ mở rộng diện tích dong riềng lên hơn 222 ha tại 15 xóm trong năm 2026. Địa phương hiện có 204 hộ làm miến, 2 hợp tác xã được thành lập và 3 hộ có sản phẩm đạt chứng nhận OCOP.
Chủ tịch UBND xã Nguyễn Huệ Hầu Văn Khánh cho biết địa phương đang rà soát, đo đạc lại diện tích sản xuất, hướng dẫn người dân thực hiện các yêu cầu của mã số vùng trồng. Mục tiêu là xây dựng mã số cho những vùng sản xuất cây đặc sản đủ điều kiện, đồng thời thu hút doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia liên kết trồng, chế biến và tiêu thụ.
Theo ông Khánh, mã số vùng trồng gắn với yêu cầu kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất. Người dân phải thực hiện đúng quy trình từ chăm sóc, bón phân, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đến thu hoạch, làm sạch và bảo quản sản phẩm.
Địa phương dự kiến tiếp tục rà soát thủ tục để cấp mã số vùng trồng cho 3 hộ có sản phẩm OCOP. Các nhóm cây được tập trung gồm dong riềng và một số cây ăn quả như cam, quýt, mận, na. Những diện tích đáp ứng yêu cầu sẽ được UBND xã phối hợp với cơ quan chuyên môn xác định và thực hiện thủ tục cấp mã.
Tại tổ dân phố Vĩnh Quang, phường Nùng Trí Cao, Tổ hợp tác Nà Mạ gồm 9 hộ liên kết sản xuất 1 ha lúa nếp hương bản địa. Vùng trồng được cấp mã số từ năm 2024. Các hộ sử dụng phân bón hữu cơ và thuốc vi sinh trong quá trình canh tác. Sản phẩm nếp hương Vĩnh Quang hiện được tiêu thụ mạnh vào các dịp lễ hội.
Câu chuyện mã số vùng trồng tại Cao Bằng không chỉ có những mô hình đang được duy trì. Việc 189 mã số vùng trồng thạch đen xuất khẩu bị thu hồi cho thấy những yêu cầu kỹ thuật nếu không được duy trì thường xuyên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tham gia thị trường.
![]() |
| Các sản phẩm nông sản được sơ chế, đóng gói trước khi đưa ra thị trường |
Trước đây, toàn tỉnh được cấp 191 mã số vùng trồng, gồm 189 mã số thạch đen phục vụ xuất khẩu và 2 mã số phục vụ tiêu thụ nội địa. Đến nay, toàn bộ 189 mã số thạch đen xuất khẩu đã bị thu hồi.
Trong số này, 12 mã số bị thu hồi do chủ vùng trồng không thực hiện ghi chép nhật ký dù đã được cơ quan chuyên môn nhắc nhở. Có 163 mã số bị thu hồi sau khi người dân tự ý thay đổi cây trồng, không tiếp tục thực hiện cam kết đối với vùng thạch đen. 14 mã số còn lại được chủ vùng trồng tự nguyện rút do gặp khó khăn về đầu ra.
Tình trạng vi phạm cũng xuất hiện tại các cơ sở đóng gói. Có 5/8 cơ sở bị xử lý do những tồn tại liên quan đến cơi nới nhà xưởng, máy móc, vệ sinh môi trường.
Bà Đoàn Thị Thuấn, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt tỉnh, cho rằng sản xuất nông nghiệp miền núi còn nhỏ lẻ, phân tán. Thói quen ghi chép nhật ký sản xuất, sử dụng vật tư theo tiêu chuẩn VietGAP hoặc yêu cầu của thị trường nhập khẩu chưa được duy trì thường xuyên. Đây là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả liên kết giữa doanh nghiệp và người sản xuất.
Thực tế này đặt ra yêu cầu phải gắn mã số vùng trồng với tổ chức sản xuất và thị trường, thay vì chỉ tập trung vào việc hoàn thành số lượng mã được cấp.
Ngày 31/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Việc thay đổi quy trình quản lý đặt thêm yêu cầu đối với chính quyền cơ sở trong việc rà soát, quản lý và theo dõi vùng sản xuất.
Tại Cao Bằng, ngành nông nghiệp xác định việc xây dựng mã số cần đi cùng vùng nguyên liệu tập trung và nhu cầu tiêu thụ. Những diện tích sản xuất phân tán, chưa xác định được vị trí cụ thể sẽ phải rà soát trước khi thực hiện thủ tục.
Ngày 18/7/2026, lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường làm việc với 8 doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và xuất khẩu. Công ty Sơn Hà và Công ty Thu Hương đề xuất xây dựng mã số vùng trồng mía và thạch đen tại xã Đông Khê.
Qua khảo sát, diện tích thạch đen tại đây còn nằm rải rác trên nương rẫy và trong các khu vực khe rừng, chưa xác định được chính xác vị trí. Sở Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu UBND xã Đông Khê đo đạc cụ thể, xác định diện tích đáp ứng điều kiện trước khi thực hiện cấp mã số.
Theo kế hoạch, Cao Bằng sẽ tập trung xây dựng vùng nguyên liệu đối với một số cây trồng có tiềm năng. Vùng mía được định hướng tại các xã Bế Văn Đàn, Phục Hòa, Hạ Lang; cây ớt tại Hòa An, Tổng Cọt, Lũng Nặm. Dong riềng và thạch đen tiếp tục được phát triển tại những khu vực phù hợp.
Tại xã Hòa An, gần 10 ha ớt hữu cơ dự kiến triển khai đăng ký quy trình mã số vùng trồng vào cuối năm 2026. Các hợp tác xã và doanh nghiệp được xác định là lực lượng tham gia liên kết, hướng dẫn kỹ thuật và tổng hợp thông tin sản xuất.
![]() |
| Người dân xã Hòa An chăm sóc vùng ớt hữu cơ, chuẩn bị đăng ký mã số vùng trồng vào cuối năm 2026. |
Với những vùng đã được cấp mã, yêu cầu đặt ra là duy trì đầy đủ điều kiện trong suốt quá trình sản xuất. Trường hợp phát hiện sai phạm nhưng không khắc phục theo yêu cầu, mã số có thể bị thu hồi.
Từ bài học của vùng thạch đen, việc xây dựng mã số vùng trồng tại Cao Bằng đang được đặt trong yêu cầu lớn hơn về tổ chức lại sản xuất. Chính quyền cơ sở phải nắm được diện tích và quy trình canh tác; người dân duy trì việc ghi chép, tuân thủ kỹ thuật; doanh nghiệp và hợp tác xã tham gia liên kết, xác định đầu ra.
Khi mã số được gắn với vùng nguyên liệu thực tế, quy trình sản xuất và thị trường tiêu thụ, giá trị của mã số không dừng ở một thủ tục quản lý mà trở thành một phần của chuỗi sản xuất minh bạch, có khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Tin mới hơn
Tin khác


