Hội đồng Nông nghiệp Dược liệu VCCI chính thức ra mắt tại Gia Lai
![]() |
| Toàn cảnh Diễn đàn “Thúc đẩy phát triển nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu khu vực Tây Nguyên” tại Gia Lai, chiều 23/10. |
Nhằm tạo không gian trao đổi chính sách, đánh giá tiềm năng, nhận diện những khó khăn và thúc đẩy hợp tác phát triển, chiều 23/10, Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai, Hội đồng Phát triển Nông nghiệp và Dược liệu Quốc gia VCCI (VCAC) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức Diễn đàn "Thúc đẩy phát triển nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu khu vực Tây Nguyên".
Diễn đàn được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến, với sự tham dự của đại diện lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Công Thương, VCCI, UBND tỉnh Gia Lai cùng các địa phương khu vực Tây Nguyên, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp, hợp tác xã. Hướng tới tăng cường kết nối giữa cơ quan quản lý nhà nước, địa phương, doanh nghiệp, chuyên gia, nhà khoa học, hợp tác xã và người sản xuất; thúc đẩy chuyển giao khoa học công nghệ, thu hút đầu tư, xây dựng chuỗi giá trị và phát triển thị trường nông sản, dược liệu theo hướng bền vững.
Trong khuôn khổ chương trình, Ban tổ chức công bố quyết định kiện toàn và ra mắt VCAC nhiệm kỳ 2026–2031. Hội đồng là đầu mối kết nối doanh nghiệp, thúc đẩy hợp tác, đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu, góp phần nâng cao giá trị nông sản, dược liệu.
Phát biểu tại buổi lễ, ông Phan Thanh Thiên, Chủ tịch VCAC, cho biết diễn đàn vừa diễn ra với nhiều ý kiến tâm huyết, đề xuất thiết thực và mở ra cơ hội hợp tác mới. Kết quả diễn đàn cho thấy nhu cầu rất lớn về một đầu mối kết nối thường xuyên giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và địa phương, qua đó đưa sáng kiến, công nghệ và nguồn lực vào thực tiễn sản xuất, chế biến và thị trường.
![]() |
| Ông Phan Thanh Thiên, Chủ tịch Hội đồng Phát triển Nông nghiệp Dược liệu Quốc gia VCCI. Ảnh: Tư liệu |
Theo ông Thiên, Hội đồng kế thừa nền tảng của Hội đồng Doanh nghiệp Nông nghiệp Việt Nam, được thành lập theo Quyết định số 0287/PTM-VP ngày 5/3/2020 của Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Trong quá trình hoạt động, Hội đồng từng bước hình thành mạng lưới doanh nghiệp, doanh nhân, chuyên gia và đối tác, thúc đẩy kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp.
“Việc kiện toàn và ra mắt Hội đồng hôm nay không chỉ là sự thay đổi về tên gọi hay nhân sự. Đây là bước đổi mới về tư duy, phạm vi hoạt động và phương thức tổ chức, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, xanh, tuần hoàn và bền vững; đồng thời khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế của ngành dược liệu Việt Nam”, ông Thiên nhấn mạnh.
Hội đồng hoạt động trong khuôn khổ VCCI, dưới sự chỉ đạo của Thường trực VCCI; lấy nhu cầu chính đáng của doanh nghiệp, hiệu quả từng chương trình và kết quả cụ thể đóng góp cho cộng đồng làm thước đo. Bộ máy được tổ chức tinh gọn, đề cao trách nhiệm và tính chủ động của từng thành viên, từng bước mở rộng mạng lưới kết nối trên cả nước.
Trong nhiệm kỳ 2026–2031, VCAC xác định 4 nhóm nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, tập hợp tiếng nói doanh nghiệp, kịp thời phản ánh khó khăn, vướng mắc và kiến nghị; tham gia góp ý, tham vấn chính sách thông qua VCCI, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và dược liệu.
Thứ hai, kết nối doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia và đối tác công nghệ; thúc đẩy ứng dụng công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và các mô hình sản xuất xanh.
Thứ ba, phát triển chuỗi giá trị bền vững từ vùng nguyên liệu, sản xuất, chế biến sâu đến tiêu chuẩn chất lượng, xây dựng thương hiệu và tiêu thụ sản phẩm, trong đó chú trọng nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu có giá trị.
Thứ tư, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, kết nối đầu tư và hợp tác trong nước, quốc tế; hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Ông Thiên khẳng định, giá trị của Hội đồng không nằm ở quy mô tổ chức, mà ở những chương trình được triển khai, những khó khăn của doanh nghiệp được tháo gỡ, những chuỗi liên kết được hình thành. Mỗi chương trình của Hội đồng sẽ có mục tiêu rõ ràng, có đơn vị và cá nhân phụ trách, có kế hoạch thực hiện và được đánh giá bằng kết quả cụ thể. Hội đồng hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tài chính, công khai, minh bạch, đúng quy định và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực đóng góp.
![]() |
| Ông Hoàng Mạnh Ngọc, Phó Chủ tịch Hội đồng phát triển Nông nghiệp và Dược liệu Quốc gia VCCI (VCAC). |
Ông Hoàng Mạnh Ngọc, Phó Chủ tịch VCAC, chia sẻ từ kinh nghiệm phát triển dược liệu ở miền núi phía Bắc, ngành dược liệu cần gắn với bảo tồn nguồn gen, nghiên cứu nhân giống, xây dựng vùng trồng phù hợp, tránh khai thác tận thu. Việc lựa chọn giống phải dựa trên cơ sở khoa học, đồng thời đẩy mạnh chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã với người dân.
Theo ông Ngọc, ngành dược liệu miền núi hiện còn khó khăn về vốn, hạ tầng, công nghệ và thị trường; chu kỳ sinh trưởng dài khiến thời gian thu hồi vốn chậm. Vì vậy, cần xây dựng chiến lược phát triển theo từng vùng sinh thái, hỗ trợ tiếp cận đất đai, tín dụng dài hạn, công nghệ và thị trường, đồng thời tăng cường kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc.
![]() |
| Bà Đoàn Hương Sơn, đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, đề xuất 6 nhóm giải pháp nâng sức cạnh tranh nông sản, dược liệu Tây Nguyên. |
Bà Đoàn Hương Sơn, đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết Tây Nguyên hiện có khoảng 2,67 triệu ha đất trồng trọt, dẫn đầu cả nước về sản lượng cà phê, hồ tiêu, bơ, chanh leo, trong khi diện tích sầu riêng ngày càng tăng. Bên cạnh đó, khu vực còn có tiềm năng phát triển dược liệu nhờ lợi thế khí hậu, độ cao và tri thức bản địa, tạo điều kiện phát triển mô hình nông lâm kết hợp gắn với du lịch sinh thái.
Hiện 3 tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng có khoảng 6.168 ha dược liệu, trong đó cây ngắn ngày chiếm 89,9% (khoảng 5.543 ha), cây dài ngày chỉ chiếm 10,1% (khoảng 625 ha). Theo bà Sơn, sản xuất nông nghiệp Tây Nguyên vẫn đối mặt nhiều thách thức như quy mô nhỏ lẻ, liên kết chuỗi thiếu chặt chẽ, năng lực chế biến sâu hạn chế, thiếu nước tưới, suy thoái đất và dịch hại diễn biến phức tạp.
Riêng lĩnh vực dược liệu, cơ cấu sản xuất vẫn chủ yếu là cây gia vị, dược liệu phổ thông có giá trị gia tăng thấp, trong khi dược liệu quý còn ít và phân tán. Nguồn giống chưa được chuẩn hóa, chất lượng không đồng đều, thiếu vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn GACP-WHO.
Do đó, cần chuyển trọng tâm từ mở rộng sản xuất sang nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng, gắn với bảo vệ tài nguyên và giảm phát thải; ưu tiên cơ giới hóa, công nghệ số, truy xuất nguồn gốc, chuẩn hóa giống và vùng nguyên liệu dược liệu, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân.
“Để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành trồng trọt cần tập trung vào 6 nhóm giải pháp, bao gồm: hoàn thiện quy hoạch và quản lý đất đai; nâng cao chất lượng giống và kỹ thuật canh tác; tăng cường giám sát, phòng trừ dịch hại; phát triển chuỗi giá trị và thị trường; hoàn thiện chính sách tín dụng, thu hút đầu tư; đào tạo nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số”, bà Sơn cho biết.
Đồng thời, cơ quan quản lý, địa phương, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ trong chuyển giao công nghệ, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn và liên kết tiêu thụ. Về phía nông dân, cần tuân thủ quy trình kỹ thuật, ghi chép nhật ký sản xuất và tham gia chuỗi liên kết.
![]() |
| Ông Đoàn Ngọc Có, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai: Nhiều mô hình công nghệ cao đạt doanh thu 500–700 triệu đồng/ha. |
Ông Đoàn Ngọc Có, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai, cho biết nông nghiệp công nghệ cao đang mở ra cơ hội nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế trên cùng diện tích canh tác. Tây Nguyên có lợi thế về quỹ đất rộng, khí hậu thuận lợi, phù hợp phát triển vùng sản xuất công nghệ cao quy mô lớn. Tuy nhiên, chi phí đầu tư ban đầu cao, sản xuất manh mún và khả năng tiếp cận công nghệ hạn chế đang là rào cản đối với người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.
Hiện Gia Lai đã thu hút gần 70 dự án trồng trọt ứng dụng công nghệ cao và cấp chứng nhận đầu tư cho khoảng 204 dự án chăn nuôi công nghệ cao. Trong khi doanh thu bình quân đạt khoảng 120–150 triệu đồng/ha, nhiều mô hình công nghệ cao đạt 500–700 triệu đồng/ha, thậm chí hàng tỷ đồng/ha. Việc áp dụng quy trình sản xuất đạt tiêu chuẩn, có chứng nhận còn giúp nâng cao chất lượng, độ đồng đều của sản phẩm và mở rộng cơ hội xuất khẩu.
Bên cạnh đó, Gia Lai đang đẩy mạnh phát triển các loại dược liệu có giá trị như mật nhân, hà thủ ô đỏ, cát cánh, cà gai leo và sâm đương quy. Đến năm 2030, tỉnh hướng tới phát triển khoảng 10.000 ha cây dược liệu và khoảng 31.000 ha dược liệu dưới tán rừng.
Tuy nhiên, ông Có nhấn mạnh, mở rộng diện tích phải gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ. Nếu phát triển ồ ạt khi chưa có đầu ra ổn định, người dân dễ rơi vào tình trạng dư thừa sản phẩm, ảnh hưởng thu nhập. Vì vậy, Gia Lai xác định doanh nghiệp và hợp tác xã giữ vai trò nòng cốt trong ứng dụng công nghệ, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, liên kết tiêu thụ và mở rộng thị trường.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Anh Nguyên, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Gia Lai: Phát triển dược liệu dưới tán rừng phải đặt bảo vệ rừng lên hàng đầu. |
Bà Nguyễn Thị Anh Nguyên, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai, cho biết địa phương có nhiều lợi thế về đất đai, khí hậu và hệ sinh thái đa dạng. Không gian phát triển sau sáp nhập mở ra cơ hội hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, gắn với chế biến và tiêu thụ.
Theo bà Nguyên, Gia Lai tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở các ngành hàng có lợi thế như cà phê, hồ tiêu, cao su, chanh dây, sầu riêng, rau quả và chăn nuôi; ưu tiên công nghệ tưới tiết kiệm, giống chất lượng cao, cơ giới hóa, chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc.
Đối với dược liệu, tỉnh định hướng phát triển vùng nguyên liệu phù hợp điều kiện sinh thái, chú trọng bảo tồn nguồn gen, nghiên cứu giống, kiểm soát chất lượng và chế biến sâu. Các loại dược liệu giá trị cao như sâm Ngọc Linh cần được phát triển theo quy trình chặt chẽ, gắn với nhu cầu thị trường, tránh mở rộng diện tích khi chưa có đầu ra ổn định.
Riêng mô hình trồng dược liệu dưới tán rừng, bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học phải được đặt lên hàng đầu. Việc lựa chọn cây trồng, quy mô và phương thức sản xuất phải phù hợp hiện trạng rừng, tuân thủ pháp luật, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng, doanh nghiệp và người dân.
Gia Lai sẽ ưu tiên thu hút doanh nghiệp có năng lực công nghệ, tài chính và phương án tiêu thụ rõ ràng; tăng cường liên kết giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, hợp tác xã và người dân. Theo bà Nguyên, phát triển nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu không nên chạy theo diện tích hay số lượng dự án, mà phải lấy hiệu quả kinh tế, chất lượng sản phẩm, khả năng tiêu thụ, thu nhập người dân và kết quả bảo vệ rừng làm thước đo.
![]() |
| Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). |
Theo ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), để phát triển nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu, cần nâng cao tính đồng bộ, ổn định, minh bạch và khả năng thực thi của chính sách, qua đó tạo dựng niềm tin, khuyến khích nhà đầu tư dài hạn và huy động thêm nguồn lực xã hội.
Ông Phòng đánh giá Tây Nguyên có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, đa dạng sinh học, vùng nguyên liệu và sản phẩm bản địa. Tuy nhiên, lợi thế tự nhiên không tự động chuyển thành lợi thế cạnh tranh. “Điều quan trọng là phải có môi trường và cơ chế đủ tốt để chuyển hóa tiềm năng thành dự án, sản phẩm, doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, tạo giá trị cho nền kinh tế và nâng cao sự thụ hưởng của người dân”, ông khẳng định.
Theo Phó Chủ tịch VCCI, vấn đề cần đặc biệt quan tâm hiện nay là khoảng cách giữa định hướng chính sách và khả năng triển khai trong thực tiễn. Các chủ trương về nông nghiệp công nghệ cao, dược liệu, khoa học công nghệ, chế biến sâu và kinh tế xanh ngày càng rõ hơn, nhưng doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng nhiều yêu cầu thuộc các lĩnh vực quản lý khác nhau, trong khi chính sách và quy trình thực hiện chưa thật sự đồng bộ.
Vì vậy, vấn đề không chỉ là có chính sách hay không, mà là các chính sách có kết nối với nhau để doanh nghiệp triển khai được một dự án hoàn chỉnh hay không. Chính sách hỗ trợ chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp chuyển được cơ hội thành dự án, sản phẩm và giá trị trên thị trường.
Ông Phòng cho rằng kinh tế hiện đại được tổ chức theo chuỗi giá trị, đòi hỏi liên kết hiệu quả giữa địa phương với doanh nghiệp, khoa học công nghệ với sản phẩm, nguồn lực đầu tư với thị trường. Trong đó, Nhà nước kiến tạo thể chế và môi trường phát triển, còn doanh nghiệp trực tiếp tổ chức sản xuất, huy động vốn, đổi mới công nghệ và đưa sản phẩm ra thị trường. VCCI sẽ tiếp tục đồng hành, lắng nghe thực tiễn, góp phần tháo gỡ khó khăn để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.
Tin khác






