Nồng ấm rượu men lá bản Xiềng

OVN - Làng nghề rượu men lá ở bản Xiềng đã có từ lâu và được nhân dân nơi đây truyền từ bao thế hệ. Những năm gần đây nghề làm rượu men lá đang có chiều hướng phát triển mạnh. Rượu men lá mang đến vị thơm nồng, đậm vị núi rừng miền Tây, xứ Nghệ.

Rượu men lá bản Xiềng được người tiêu dùng ưa chuộng bởi hương vị đặc trưng được tạo nên từ những viên men lá. Men nấu rượu được làm từ lá rừng là các vị thuốc Bắc với bột gạo. Mỗi mẻ men cần đến 20-30 loại cây, lá rừng khác nhau, là những loại lá thuốc có lợi cho sức khỏe. Những loại lá này phải vào rừng sâu, trèo đèo, lội suối để thu hái. Người chuyên nấu rượu men lá ở bản Xiềng khi hái được đủ các loại lá về làm men phải mất 3-4 ngày đi rừng. Trước đây, rừng còn nhiều, cây rừng phong phú, các loại lá cũng dễ tìm hơn. Giờ, muốn lấy được lá phải đi sâu, đi xa. Có những loại lá là thân dây leo, bám vào các cây cổ thụ, có những loại mọc chênh vênh bên vách núi nên chỉ có đàn ông mới thu hái được. Nay, do nhu cầu làm men nấu rượu tăng nên các hộ đã có ý thức khoanh nuôi, bảo vệ và đưa nhiều loại cây rừng về trồng trong vườn nhà để tiện thu hái.

Nồng ấm hương vị rượu men lá bản Xiềng xư Nghệ

Rượu được nấu bằng nước suối trong, củi đun phải là loại gỗ chắc, đượm lửa, đun đều tay.

Hương vị núi rừng

Theo bà con làm nghề nấu rượu ở đây cho biết: Lá rừng rau khi thu hái về thì rửa sạch, băm nhỏ, có nắng thì ngày hong nắng, đêm phơi sương, còn những ngày mưa lại được hong khô bằng khói bếp. Sau khi phơi khô, lá thì giã mịn bằng cối đá xanh, dùng rây rây lại thật kỹ; thân cây thì nấu sắc lấy nước để ngâm gạo. Gạo làm men phải là thứ nếp nương thơm, gặt khi đủ độ chín, phơi khô sạch sẽ, xát lấy gạo, đem ngâm với nước lá cây rừng 1 ngày, vớt ra nghiền thành bột. Bột này đem trộn đều với nước lá và nặn thành những viên men. Phía ngoài phủ một lớp “bột áo” để men không bị bám dính, không bị nát. Men sau khi đã được nặn sẽ xếp ra một cái nong to có trải rơm khô bên dưới, xếp men xong tiếp tục phủ một lớp rơm lên trên, vào mùa Hè phủ thêm một lớp chăn mỏng, sau 1 ngày là ra men, còn vào mùa Đông thời tiết lạnh hơn cần phải ủ 2 ngày (phải tủ thêm rơm, phủ chăn bông lên trên) mới ra được men. Men sau khi ủ xong đem trải đều trên nong để chỗ thoáng mát cho khô dần hoặc đem ra phơi nắng ít nhất là 5 – 7 ngày mới dùng để nấu rượu.

Nồng ấm hương vị rượu men lá bản Xiềng xư Nghệ

Khâu làm rượu men lá rất kỳ công

Gạo nếp nương đồ thành xôi, xới tung ra nống, chờ nguội rồi giã men lá thật mịn rắc vào, ủ chừng 25-30 ngày thì đem chưng cất thành rượu. Nước nấu rượu là loại nước suối đầu nguồn trong và ngọt. Củi nấu rượu là loại củi chắc, khô đượm lửa. Khi nấu phải đun đều lửa, lửa nhỏ thì không đủ hơi nóng để ra rượu, lửa to dễ bị trào, sục chua, khê. Rượu men lá trở nên quý vì cách làm kỳ công từ khâu kiếm nguyên liệu, cách làm men và cách nấu. Trong đó, khâu làm men là công phu nhất, đòi hỏi độ kiên trì, chịu khó và kinh nghiệm, bí quyết riêng của mỗi gia đình. Mỗi viên men lá là vị thuốc quý, rất lành, tạo nên hương vị đặc trưng riêng của rượu bản Xiềng.

Nồng ấm hương vị rượu men lá bản Xiềng xư Nghệ

Mỗi viên men lá làm từ 20-25 loại lá rừng khác nhau, mỗi loại là một vị thuốc quý trong dân gian của đồng bào Thái Con Cuông.

Nấu rượu men lá là nghề truyền thống bao đời nay của đồng bào Thái bản Xiềng. Rượu chủ yếu được thu mua nhập cho các nhà hàng, các mối hàng quen ở thành phố Vinh và Hà Nội. Những năm gần đây, nghề làm rượu men lá bản Xiềng phát triển mạnh, thị trường tiêu thụ được mở rộng. Đến nay, bản Xiềng có 41 hộ với 48 lao động tham gia làm nghề. Làng có 3 tổ nấu rượu tập trung tại 3 hộ gia đình, luôn có từ 30-40 lao động. Với công suất bình quân khoảng 200-300 lít rượu/ngày; mỗi tháng bình quân từ 6-7 nghìn lít đã mang lại thu nhập cho các hộ làng nghề là hơn 28 triệu đồng/năm, thu nhập bình quân mỗi lao động là 18 triệu đồng/người/năm. Cuối năm 2021, Hội đồng thẩm định công nhận làng nghề truyền thống của tỉnh đã thẩm định và công nhận làng nấu rượu men lá bản Xiềng đáp ứng đủ các tiêu chí cấp bằng công nhận làng nghề cấp tỉnh.

Xây dựng rượu men lá thành sản phẩm OCOP

Được công nhận làng nghề là niềm vinh dự của bà con, là cơ hội để bảo tồn, phát huy nghề truyền thống, phát triển kinh tế từ nghề. Để tạo dựng thương hiệu riêng cho rượu men lá bản Xiềng, chính quyền đã chỉ đạo, hướng dẫn bà con sản xuất đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng chất lượng sản phẩm, đồng thời đầu tư vào việc cải tiến mẫu mã, cách đóng gói và hoàn thiện tem, nhãn mác, đăng ký bảo hộ sản phẩm. Đồng thời, đẩy mạnh quảng bá rượu men lá bản Xiềng, từng bước xây dựng rượu men lá bản Xiềng thành sản phẩm OCOP của địa phương.

Nồng ấm hương vị rượu men lá bản Xiềng xư Nghệ

Mỗi mẻ cơm rượu được ủ 20-25 ngày rồi mới đem chưng cất thành rượu men lá

Các hộ tham gia làng nghề rất có ý thức trong việc giữ thương hiệu, chất lượng sản phẩm. Bởi theo họ, nếu đánh mất đi hương vị đặc trưng, làm mất đi chất lượng là sẽ bị thị trường tẩy chay. Các hộ đang làm nghề nấu rượu men lá ở bản Xiềng có cam kết với nhau rất nghiêm ngặt trong việc giữ gìn thương hiệu, chất lượng rượu: men ủ cơm rượu phải là men lá thứ thiệt, cơm nấu rượu phải là nếp nương và quá trình ủ, nấu không sử dụng bất cứ hóa chất, phụ gia nào khác. Đồng thời, cũng nghiêm cấm việc pha trộn rượu của các nơi khác vào để bán ra thị trường. Do đó, các hộ làm nghề, ngoài tự trọng của nghề, ngoài giữ gìn danh tiếng làng nghề truyền thống, thì cái họ hướng đến là đem thương hiệu rượu men lá bản Xiềng đi xa hơn, tiếp cận được thị trường lớn hơn…tạo thu nhập bền vững từ nghề góp phần thức đẩy phát triển kinh tế.

Điều đáng mừng, các hộ tham gia làng nghề rất có ý thức trong việc giữ thương hiệu, chất lượng sản phẩm. Bởi theo họ, nếu đánh mất đi hương vị đặc trưng, làm mất đi chất lượng là sẽ bị thị trường tẩy chay, là tự mình “đổ bỏ bát cơm của mình”. Các hộ có quy định bất thành văn với nhau rằng, men ủ cơm rượu phải là men lá rừng thứ thiệt, cơm nấu rượu phải là nếp nương và quá trình ủ, nấu không sử dụng bất cứ hóa chất, phụ gia nào khác. Đồng thời, cũng nghiêm cấm việc pha trộn rượu của các nơi khác vào để bán ra thị trường”. Do đó, các hộ làm nghề, ngoài tự trọng của nghề, ngoài giữ gìn danh tiếng làng nghề truyền thống, thì cái họ hướng đến là đem thương hiệu rượu men lá bản Xiềng đi xa hơn, tiếp cận được thị trường lớn hơn… tạo sinh kế bền vững từ nghề.

Quân Bảo

Tin liên quan

Tin mới hơn

Trà hay Chè? Hành trình nghìn năm của một chiếc lá và hai cách gọi tên
Trà hay Chè? Hành trình nghìn năm của một chiếc lá và hai cách gọi tên
OVN - Lư trà quán ở phố Nguyễn Quý Đức (Hà Nội) - hay "quán trà ông già" như người địa phương vẫn gọi - đã hai mươi năm nay vẫn chỉ có tấm biển gỗ nhỏ xíu, phai màu đến mức tôi phải đi ngang ba lần mới nhận ra. Đó là cách của văn hóa trà: quán cũ, chỗ cũ, khách quen. Biết thì ghé, không cần quảng cáo. Chiều đông, ngồi nhấm nháp ở góc quen, tôi nhìn ông chủ rót trà im lặng. "Trà sen Tây Hồ" - dòng chữ mờ nhạt trên mặt bàn gỗ. Rồi tôi nghĩ đến quán vỉa hè cuối ngõ, nơi mấy bác thợ xây uống "chè" sau giờ tan ca. Cùng là lá, cùng là nước. Nhưng một bên gọi "trà" - thanh tao, một bên gọi "chè" - dân dã. Tại sao vậy? Câu trả lời nằm ở tận vùng núi Tứ Xuyên, cách đây hơn hai nghìn năm.
Chén trà phóng khoáng của người Việt
Chén trà phóng khoáng của người Việt
OVN - Có những ngày Hà Nội bừng dậy trong làn sương mịn, tiếng xe rì rầm chưa kịp thành dòng. Tôi bước ra phố, nghe đâu đó tiếng nước sôi “thở” trong chiếc ấm nhôm đã mòn vành, mùi trà xanh tỏa dịu như một lời chào cũ. Trà đối với người Việt chưa bao giờ chỉ là một thức uống. Nó như cái bóng mát của cây cổ thụ giữa trưa, như chút hơi ấm nơi hiên nhà mùa đông, và như lời mời mộc mạc của một dân tộc trọng nghĩa tình. Càng về sau càng nhận ra: cách người Việt uống trà chính là một trong những minh chứng rõ ràng nhất cho sự phóng khoáng, rộng mở mà vẫn thâm trầm của bản sắc văn hóa Việt. Trà ở Việt Nam cũng không buộc người ta phải ngồi ngay ngắn, không đòi hỏi một bộ trà cụ đúng chuẩn, cũng không ép ai phải tuân theo một quy tắc bất di bất dịch. Tại đây, người ta không cần “rào đón” nhiều, ấm trà đã nói hộ chủ nhà. Đặt ấm xuống bàn, rót chén đầu tiên, câu chuyện tự khắc tìm được lối đi. Người Việt uống trà theo cách tự nhiên nhất như họ sống, như họ đối xử với nhau vừa hồn hậu, vừa linh hoạt...
Căn bếp người Tày và câu chuyện OCOP
Căn bếp người Tày và câu chuyện OCOP
OVN - Ở xã Gia Phú (huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai), có một con ngõ nhỏ mà chỉ cần đi ngang qua, người ta đã thấy… đói. Không phải mùi cao lương mỹ vị, mà là hương nếp nương dẻo thơm quyện cùng sắc lá rừng, mùi bánh chưng gù vừa nhấc khỏi nồi, mùi xôi ngũ sắc còn vương hơi ấm. Từ những món ăn quen thuộc của đồng bào Tày, chị Vũ Thị Thủy Tiên đã từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất, ứng dụng công nghệ bảo quản hiện đại, đưa ẩm thực mộc mạc vùng cao trở thành sản phẩm OCOP 3 sao cấp tỉnh. Không chỉ tạo sinh kế ổn định cho gia đình và người dân địa phương, mô hình này còn góp phần lan tỏa giá trị ẩm thực truyền thống của vùng đất Lào Cai.
Bưởi Luận Văn: Sản vật tiến vua “hồi sinh”  thành sản phẩm OCOP 4 sao
Bưởi Luận Văn: Sản vật tiến vua “hồi sinh” thành sản phẩm OCOP 4 sao
Từng là sản vật dâng tiến nhà vua, dòng bưởi Luận Văn nay được người dân xã Lam Sơn gìn giữ, phát triển thành đặc sản có tiếng của xứ Thanh, theo chân thương lái vươn ra thị trường trong nước và quốc tế. Năm 2021, bưởi Luận Văn chính thức được công nhận OCOP 4 sao, khẳng định vị thế của một sản phẩm đặc sản quý hiếm.
Xóm Sưng: Dệt thổ cẩm, dệt nên sinh kế cho phụ nữ Dao Tiền
Xóm Sưng: Dệt thổ cẩm, dệt nên sinh kế cho phụ nữ Dao Tiền
OVN - Ở xóm Sưng, xã Cao Sơn, những tấm thổ cẩm Dao Tiền không chỉ là bản sắc văn hóa mà còn là nguồn sinh kế ổn định cho 12 phụ nữ, trong đó có người khuyết tật và hoàn cảnh khó khăn. Từ nghề truyền thống từng đối mặt nguy cơ mai một, Tổ hợp tác (THT) thổ cẩm Dao Tiền đã "hồi sinh" nhờ gắn kết với du lịch cộng đồng, mang về doanh thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Bốn thập kỷ giữ “lửa nghề”: Câu chuyện OCOP của thịt chua suối Sỏi
Bốn thập kỷ giữ “lửa nghề”: Câu chuyện OCOP của thịt chua suối Sỏi
OVN - Thịt chua vốn là món ăn dân dã của đồng bào dân tộc Mường, được làm từ những nguyên liệu quen thuộc và cách chế biến truyền thống. Ở Phú Thọ, bằng việc giữ vững hương vị bản địa và từng bước đầu tư sản xuất, thịt chua Suối Sỏi của Hợp tác xã (HTX) Thực phẩm Chiển Hướng, xã Cao Dương đã được công nhận OCOP 3 sao tháng 11/2024, mở ra hướng phát triển mới cho kinh tế địa phương.

Tin khác

Tiếng chiêng đánh thức hồn Mường
Tiếng chiêng đánh thức hồn Mường
OVN - Những ngày xuân ở miền núi phía Tây của Phú Thọ, trong những ngôi nhà sàn nép mình bên triền đồi, không khí ấm cúng, vui tươi hơn hẳn. Con đường nhỏ uốn lượn qua nương lúa, nương ngô dẫn vào bản làng người Mường như lối quay về với ký ức xa xăm của núi rừng. Dưới tiết trời đầu xuân, tiếng chiêng Mường vang lên trầm hùng, lan qua thung lũng, dội vào vách đá rồi ngân dài như lời gọi từ quá khứ. Âm thanh ấy không chỉ đánh thức một buổi sáng miền sơn cước mà còn đánh thức cả những tầng sâu của ký ức văn hóa xứ Mường.
7 sản phẩm OCOP từ một HTX: Công nghệ sấy dẻo của Quyết Thanh Mộc Châu
7 sản phẩm OCOP từ một HTX: Công nghệ sấy dẻo của Quyết Thanh Mộc Châu
OVN - Những ngày hè oi bức, khi du khách từ miền xuôi đổ về Mộc Châu thưởng ngoạn cao nguyên xanh mát và tìm kiếm những món snack tự nhiên, xưởng chế biến hoa quả sấy của HTX Nông nghiệp Quyết Thanh ở phường Thảo Nguyên, Mộc Châu tất bật từ sáng đến tối. Bước vào khu nhà xưởng tại tiểu khu Khí tượng, dễ nhận ra nhịp sản xuất khẩn trương nhưng gọn gàng, đâu ra đấy. Hơn chục công nhân có mặt từ sáng sớm, mỗi người một việc: từ lựa quả, đóng hộp, dán nhãn đến kiểm tra lần cuối trước khi xuất kho. Những khay mận đỏ sẫm, khay xoài vàng óng được xếp ngay ngắn, ánh lên sắc màu tự nhiên - thứ màu chỉ có thể có khi quả chín đúng độ và được sấy bằng công nghệ phù hợp. Không hương liệu, không chất bảo quản, vị ngọt ở đây đến từ chính nắng gió Mộc Châu và dây chuyền sấy hiện đại của một HTX đã tạo ra 7 sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 3-4 sao.
Xôi Phú Thượng: Hành trình một di sản sống giữa lòng Hà Nội
Xôi Phú Thượng: Hành trình một di sản sống giữa lòng Hà Nội
OVN - Trên những con phố Hà Nội từ tờ mờ sáng, hình ảnh thúng xôi bốc khói thơm ngậy đã trở thành một phần không thể tách rời của ký ức người dân thủ đô. Đằng sau gánh xôi giản dị ấy là cả một làng nghề trăm năm tuổi đang chuyển mình mạnh mẽ. Năm 2025, bốn sản phẩm xôi đặc trưng của phường Phú Thượng chính thức đạt chứng nhận OCOP 3 sao. Đây là cột mốc quan trọng khẳng định vị thế của một di sản ẩm thực đang sống và phát triển ngay giữa lòng Thủ đô.
Nếp nương gói ước mơ: Gen Z người Thái dệt sinh kế từ món bánh dân tộc
Nếp nương gói ước mơ: Gen Z người Thái dệt sinh kế từ món bánh dân tộc
OVN - Không chọn con đường quen thuộc của nhiều phụ nữvùng cao, Lò Chúc Chi - cô gái người dân tộc Thái ở phường Mường Lay (Điện Biên) đã bắt đầu hành trìnhkhởi nghiệp từ chính những chiếc bánh truyền thốngcủa dân tộc mình. Từ gian bếp nhỏ của bản Thái, khẩu xén, chí chọp từng bước trở thành sản phẩm OCOP, mở ra sinh kế mới cho phụ nữ địa phương và giữ lại mộtphần hồn cốt văn hóa Tây Bắc.
Cây quế tạo sinh kế cho nông dân Nghĩa Đô
Cây quế tạo sinh kế cho nông dân Nghĩa Đô
Đầu hè, không khí tại những vùng quế Lào Cai vẫn không giảm đi sự nhộn nhịp. Từ sáng sớm, người dân đã tất bật vào rừng bóc vỏ, vận chuyển quế xuống núi để kịp các chuyến thu mua. Với nhiều gia đình, đây không chỉ là mùa lao động nhộn nhịp mà còn là thời điểm hái ra tiền từ loại cây được ví như “vàng xanh” của miền sơn cước.
Mai Hạ gọi nắng, bếp gọi men rừng
Mai Hạ gọi nắng, bếp gọi men rừng
Giữa cái nắng đầu hè, xã Mai Hạ (tỉnh Phú Thọ) hiện ra không phải bằng sự choáng ngợp, mà bằng một thứ quyến rũ rất chậm. Đồi núi xanh rì, những nếp nhà sàn nép mình bên sườn núi, và đâu đó trong không khí, một mùi hương dìu dịu vừa ấm, vừa sâu, như gọi người ta dừng lại lâu hơn. Đó là hương của rượu Láu Siêu, thứ “men rừng” đã theo chân người Thái ở xóm Chiềng Hạ đi qua bao mùa nương rẫy, bao biến thiên của thời gian.
Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi
Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi
Những cây chè Shan tuyết cổ thụ ở Tà Xùa không phải mới xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây. Chúng đã đứng đó hàng trăm năm, bám rễ vào sườn núi đá, lặng lẽ hút sương mù và gió lạnh của vùng cao Tây Bắc. Nhiều thế hệ người Mông vẫn quen gọi chúng bằng một cái tên giản dị: “chè rừng”. Nhưng trong mắt những người làm trà, đó là một kho báu thiên nhiên hiếm có - thứ “vàng xanh” của núi cao. Từ tiềm năng của vùng chè di sản ấy, những năm gần đây, việc chế biến và xây dựng thương hiệu đã bắt đầu mở ra con đường mới cho loại trà đặc biệt này. Khi doanh nghiệp vào cuộc, những búp chè Shan tuyết không còn chỉ là nguyên liệu thô bán cho thương lái, mà dần trở thành sản phẩm mang giá trị cao mang theo hương vị và câu chuyện của núi rừng Tà Xùa.
Cao nguyên chín muộn: Mùa mận Mộc Châu dài thêm một nhịp
Cao nguyên chín muộn: Mùa mận Mộc Châu dài thêm một nhịp
Có những vườn vừa lấp lánh quả, vừa thấp thoáng hoa, như thể mùa mận đang được “chia ca” thay vì ùa về trong chốc lát. Bằng tay nghề và kỹ thuật, người nông dân kéo dài vị ngọt để cả cao nguyên có thêm mùa đón khách. Trên cao nguyên Mộc Châu, cây mận hậu từ lâu không chỉ là loài cây đặc trưng của vùng đất sương mờ mà còn là nguồn sinh kế quan trọng của hàng nghìn hộ dân. Với gần 3.500 ha mận hậu, đây là một trong những cây trồng chủ lực mang lại thu nhập ổn định cho người dân địa phương. Nhưng thay vì chỉ trông chờ vào vụ thu hoạch truyền thống diễn ra trong tháng 5 và tháng 6, nhiều nông dân Mộc Châu đang chủ động “điều khiển mùa vụ”, đưa mận chín sớm và kéo dài thời gian thu hoạch đến tận tháng 8. Nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào canh tác, những vườn mận trái vụ hôm nay không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao mà còn mở ra thêm sức hút mới cho du lịch trải nghiệm trên cao nguyên xanh.
Dệt ký ức, thêu tương lai: Người Lào ở Điện Biên giữ nghề, dựng sinh kế
Dệt ký ức, thêu tương lai: Người Lào ở Điện Biên giữ nghề, dựng sinh kế
Giữa nhịp sống hiện đại, khi thị trường may mặc công nghiệp ngày càng phát triển với vô vàn mẫu mã, sắc màu và chất liệu, ở nhiều bản làng của tỉnh Điện Biên, phụ nữ dân tộc Lào vẫn đều đặn ngồi bên khung cửi mỗi ngày. Tiếng thoi đưa vang lên trong những ngôi nhà sàn không chỉ là âm thanh của lao động, mà còn là nhịp giữ gìn bản sắc văn hóa đã được truyền qua nhiều thế hệ.
Tạo sinh kế cho phụ nữ bản từ... xơ mướp
Tạo sinh kế cho phụ nữ bản từ... xơ mướp
Ở vùng núi Cao Sơn, khi mùa mướp đi qua, trên những hàng rào gỗ và mái hiên nhà sàn thường còn sót lại vài quả mướp già khô quắt. Bao năm nay, người dân chỉ giữ lại để làm giống, hoặc tước xơ đem rửa bát. Chẳng ai nghĩ thứ nguyên liệu thô ráp như xơ mướp ấy có ngày trở thành tranh nghệ thuật, túi xách hay quà lưu niệm cho du khách.
Giữ vị ngọt sông Đà trong từng sợi ruốc cá OCOP
Giữ vị ngọt sông Đà trong từng sợi ruốc cá OCOP
Vào hè, trên lòng hồ Hòa Bình, phường Hoà Bình mặt nước xanh màu ngọc bích. Những chiếc thuyền nhỏ lặng lẽ rẽ sóng giữa các dãy lồng cá nối nhau ven núi. Người dân vùng hồ vẫn quen gọi nơi đây là “biển trên núi”, bởi đây là nơi con sông Đà sau khi bị ngăn dòng đã để lại một vùng nước mênh mang, nuôi lớn bao phận người bằng nghề nuôi cá lồng. Từ những con cá nuôi giữa lòng hồ, giờ đây đã có những sản phẩm OCOP mang theo cả hương vị sông nước Tây Bắc đi xa. Trong đó, ruốc cá sông Đà của Công ty TNHH Hải Đăng Group, phường Hòa Bình (Phú Thọ), không chỉ là một món ăn, mà giống như thứ quà mang theo ký ức vùng hồ dành cho du khách sau mỗi chuyến đi.
Tiếng thoi đưa trở lại: Giữ hồn thổ cẩm Mường ở vùng cao Phú Thọ
Tiếng thoi đưa trở lại: Giữ hồn thổ cẩm Mường ở vùng cao Phú Thọ
Từng có lúc tiếng thoi đưa ở xóm Cóm, xã Tân Lạc dần thưa vắng. Nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Mường nơi đây đứng trước nguy cơ mai một. Từ mô hình hợp tác xã gắn với phát triển sản phẩm OCOP, những hoa văn cổ của đồng bào Mường nay đang được gìn giữ, tạo việc làm và mở ra hướng sinh kế bền vững cho người dân địa phương.
Mùi hương núi rừng và giấc mơ OCOP của người làm dược liệu Mường La
Mùi hương núi rừng và giấc mơ OCOP của người làm dược liệu Mường La
Từ những cây thuốc mọc dưới tán rừng, người dân xã Mường La (Sơn La) đang từng bước tạo ra các sản phẩm chế biến như dầu gội thảo dược, trà táo mèo, xà phòng thiên nhiên… để nâng giá trị dược liệu bản địa. Không còn phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái và thị trường nguyên liệu thô, nhiều HTX vùng cao đã bắt đầu hành trình đưa dược liệu Tây Bắc tiếp cận các hội chợ lớn, kênh bán hàng số và hướng tới xây dựng sản phẩm OCOP.
Dưới chân núi đá Mai Hạ (Phú Thọ), "cá tiến vua" nuôi sống một bản làng
Dưới chân núi đá Mai Hạ (Phú Thọ), "cá tiến vua" nuôi sống một bản làng
Ở những dãy núi đá quanh xã Mai Hạ (Phú Thọ), mùa khô kéo dài khiến ruộng đồng nứt nẻ, người dân từng quen với cảnh “trông trời trông đất” để gieo cấy vài vụ lúa đủ ăn. Nhưng cũng chính từ những khe nước lạnh âm thầm chảy ra từ lòng núi ấy, một hướng sinh kế khác đã hình thành, lặng lẽ suốt hơn ba thập kỷ, đó là nuôi cá dầm xanh - loài cá từng được xem là sản vật quý hiếm dành cho vua chúa.
Đà Nẵng: Giữ vị mặn quê nhà từ những chum mắm truyền đời
Đà Nẵng: Giữ vị mặn quê nhà từ những chum mắm truyền đời
Giữa nhịp sống hiện đại với đủ loại gia vị công nghiệp phủ kín các kệ hàng, ở một góc nhỏ nơi miền biển miền Trung, vẫn có những người lặng lẽ giữ nghề bằng đôi tay và ký ức. Với chị Trần Thị Ánh Hồng và chị Ngô Thị Kim Xuyến, phường An Khê (TP Đà Nẵng) nước mắm không đơn thuần là một sản phẩm để bán, mà còn là phần hồn của làng biển, là mùi vị tuổi thơ gắn với những mùa cá cơm bạc trắng bến Tam Thanh, Tam Tiến.
Tin mới Đọc nhiều
Giao diện di động