Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi

Những cây chè Shan tuyết cổ thụ ở Tà Xùa không phải mới xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây. Chúng đã đứng đó hàng trăm năm, bám rễ vào sườn núi đá, lặng lẽ hút sương mù và gió lạnh của vùng cao Tây Bắc. Nhiều thế hệ người Mông vẫn quen gọi chúng bằng một cái tên giản dị: “chè rừng”. Nhưng trong mắt những người làm trà, đó là một kho báu thiên nhiên hiếm có - thứ “vàng xanh” của núi cao. Từ tiềm năng của vùng chè di sản ấy, những năm gần đây, việc chế biến và xây dựng thương hiệu đã bắt đầu mở ra con đường mới cho loại trà đặc biệt này. Khi doanh nghiệp vào cuộc, những búp chè Shan tuyết không còn chỉ là nguyên liệu thô bán cho thương lái, mà dần trở thành sản phẩm mang giá trị cao mang theo hương vị và câu chuyện của núi rừng Tà Xùa.

Tiềm năng của “chè rừng”

Ở độ cao hơn 1.500m so với mực nước biển, Tà Xùa có khí hậu mát lạnh quanh năm. Những dãy núi xếp tầng, rừng già dày đặc và lớp mây gần như không bao giờ dứt đã tạo nên môi trường sinh thái rất riêng.

Chính nơi ấy, những cây chè Shan tuyết cổ thụ lớn lên như những thân gỗ trong rừng.

Không giống các nương chè thấp ở trung du, nhiều cây chè ở Tà Xùa cao đến vài mét, thân xù xì, phủ rêu phong. Những búp chè mập mạp, dưới mặt lá phủ lớp lông tơ trắng mịn, đó chính là thứ “tuyết” tự nhiên tạo nên cái tên Shan tuyết.

Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi
Một gốc chè Shan tuyết cổ thụ ở xã Tà Xùa.

Những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nhưng tinh khiết ấy cũng tạo nên hương vị đặc biệt của trà.

Khi pha, nước trà ánh vàng trong trẻo, hương thơm thoảng mùi rừng núi. Vị chát ban đầu dịu nhẹ, rồi nhanh chóng nhường chỗ cho hậu ngọt sâu, linger rất lâu nơi cuống họng. Nhiều người sành trà vẫn nói vui rằng, uống một chén Shan tuyết Tà Xùa giống như “nếm được cả mây và gió của núi rừng”.

Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi
Trà Shan tuyết cổ thụ ở Tà Xùa có hương thơm thanh khiết từ núi rừng.

Hiện xã Tà Xùa có trên 200ha chè Shan tuyết, trong đó gần một nửa là những cây chè cổ thụ lâu năm phân bố chủ yếu tại các bản Bẹ, Tà Xùa A, Trò A, Trò B và Mống Vàng. Nhằm bảo tồn nguồn gen quý của vùng chè đặc sản này, từ năm 2008 các cơ quan chuyên môn đã tiến hành khảo sát, tuyển chọn 60 cây chè đầu dòng để lưu giữ và nhân giống. Đến năm 2019, quần thể chè Shan tuyết cổ thụ tại bản Bẹ chính thức được Hiệp hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là Cây Di sản Việt Nam.

Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài, chè Shan tuyết Tà Xùa vẫn chủ yếu được bán dưới dạng nguyên liệu thô. Những búp chè non rời khỏi núi rừng nhưng giá trị mang lại cho người trồng chè vẫn còn khá khiêm tốn.

Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi
Người Mông ở Tà Xùa thu hái chè Shan tuyết cổ thụ.
Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi
Người Mông ở Tà Xùa thu hái chè Shan tuyết cổ thụ.

Khi doanh nghiệp vào cuộc

Bước ngoặt bắt đầu từ năm 2019, khi Công ty TNHH Trà và Đặc sản Tây Bắc (TAFOOD) đầu tư xây dựng cơ sở chế biến tại bản Bẹ. Từ một vùng nguyên liệu chủ yếu bán thô, Tà Xùa bắt đầu có những dây chuyền chế biến hiện đại để tạo ra các dòng trà đặc sản.

Đến năm 2024, doanh nghiệp tiếp tục mở rộng xưởng và hoàn thiện dây chuyền sản xuất tại bản Làng Sáng. Những búp chè Shan tuyết sau khi được hái thủ công từ các cây cổ thụ sẽ được đưa về xưởng ngay trong ngày để giữ trọn hương vị tự nhiên.

Phó Giám đốc Công ty TNHH Trà và Đặc sản Tây Bắc, bà Phạm Thị Việt Hà cho biết: “Mục tiêu của TAFOOD không chỉ sản xuất trà mà còn xây dựng thương hiệu trà đặc sản gắn với vùng chè cổ thụ Tà Xùa.

Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi
Chè Shan tuyết được sản xuất trong xưởng chế biến của Công ty TNHH Trà và Đặc sản Tây Bắc, xã Tà Xùa.

Doanh nghiệp chú trọng bảo tồn nguồn nguyên liệu tự nhiên, đồng thời liên kết với người dân tổ chức sản xuất theo hướng bền vững. Để bảo đảm chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp phối hợp với các hộ trồng chè hướng dẫn kỹ thuật thu hái và bảo quản nguyên liệu.”

Quy trình sản xuất được kiểm soát chặt chẽ qua nhiều công đoạn: làm héo, vò, lên men, sấy khô… Nhờ đó, các sản phẩm trà giữ được hương vị đặc trưng của vùng chè cổ thụ.

Từ nguồn nguyên liệu Shan tuyết, doanh nghiệp đã phát triển nhiều dòng sản phẩm như trà xanh, bạch trà, trà lên men, trà ép bánh và các dòng trà đặc sản cao cấp. Trong đó, Trà xanh mây Tà Xùa và Bạch trà mây đã đạt chứng nhận OCOP 4 sao cấp tỉnh.

Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi
Các bánh trà sau khi chế biến được đem đi phơi dưới nắng vùng cao.

Cùng với tiêu thụ trong nước, một số sản phẩm trà của doanh nghiệp còn từng bước tiếp cận thị trường quốc tế và giành giải thưởng tại các cuộc thi trà trong khu vực.

Để đảm bảo cho hoạt động chế biến, doanh nghiệp cũng xây dựng vùng nguyên liệu bền vững thông qua việc ký hợp đồng thu mua với khoảng 300 hộ dân tại bản Bẹ và các bản lân cận. Giá chè búp tươi hiện dao động từ 80.000 - 100.000 đồng/kg, cao hơn nhiều so với trước đây.

Gia đình ông Mùa A Châu, bản Bẹ hiện có hơn 2ha chè Shan tuyết. Ông Châu chia sẻ: “Trước đây chè chủ yếu bán cho thương lái, giá bấp bênh. Từ khi liên kết với doanh nghiệp, đầu ra ổn định hơn, thu nhập của gia đình cũng được cải thiện. Mỗi năm, gia đình thu trên 300 triệu đồng từ việc bán chè búp tươi.”

Ngoài tạo đầu ra cho chè búp tươi, nhà máy chế biến còn mang đến việc làm ổn định cho nhiều lao động tại địa phương.

Vợ chồng anh Mùa A Dênh là một trong những công nhân đang làm việc tại TAFOOD. Sau thời gian được đào tạo, anh chị đã thành thạo các công đoạn như làm héo, vò, sấy và hoàn thiện sản phẩm. Thu nhập bình quân khoảng 7 triệu đồng/người mỗi tháng, giúp gia đình có nguồn tài chính ổn định để nuôi con ăn học.

Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi
Các sản phẩm từ chè Shan tuyết của Công ty TNHH Trà và Đặc sản Tây Bắc.

Theo ông Đỗ Văn Xiêm, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Tà Xùa: “Việc doanh nghiệp đầu tư chế biến chè tại địa phương không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm mà còn tạo việc làm, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng cao. Mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và người dân đang phát huy hiệu quả, giúp cây chè Shan tuyết ngày càng khẳng định vị thế là sản phẩm đặc sản của địa phương.”

Không chỉ dừng lại ở sản xuất, những rừng chè cổ thụ giữa mây núi Tà Xùa cũng đang dần trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn. Du khách tìm đến đây không chỉ để ngắm cảnh mà còn để trải nghiệm văn hóa trà của vùng cao.

Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi
Công ty TNHH Trà và Đặc sản Tây Bắc tham gia gian hàng trưng bày và giới thiệu sản phẩm tại Hội chợ Mùa thu năm 2025 tổ chức ở Hà Nội.

Bà Nguyễn Thu Hà, du khách đến từ tỉnh Khánh Hoà chia sẻ: “Đi nhiều nơi có trà, nhưng hồng trà Shan tuyết cổ thụ ở Tà Xùa để lại ấn tượng rất riêng. Nước trà có màu hổ phách đẹp, hương thơm dịu như mật ong, uống vào có vị ngọt hậu rất dễ chịu. Tôi đã mua vài gói mang về làm quà cho người thân”.

Những búp chè Shan tuyết trắng mịn trên núi Tà Xùa giờ không còn chỉ là sản vật của bản làng. Khi người dân, doanh nghiệp và chính quyền cùng chung tay xây dựng chuỗi giá trị từ trồng, chế biến đến tiêu thụ, “vàng xanh” của núi rừng không chỉ giúp bà con vùng cao ổn định sinh kế mà còn đưa hương vị Tà Xùa lan tỏa đến nhiều vùng miền.

Hải Đăng

Tin liên quan

Tin mới hơn

Cu đơ Hà Tĩnh - Khi mật mía, lạc rang kể câu chuyện làng quê
Cu đơ Hà Tĩnh - Khi mật mía, lạc rang kể câu chuyện làng quê
OVN - Giữa miền Trung nắng gió, nơi đất đai khắc nghiệt nhưng con người lại giàu nghị lực và sự tinh tế, kẹo cu đơ ra đời như một minh chứng cho cách người Hà Tĩnh chắt chiu từng nguyên liệu giản dị để tạo nên một hương vị không thể trộn lẫn. Từ món quà quê mộc mạc, cu đơ ngày nay đang bước ra khỏi không gian làng xóm, trở thành sản phẩm OCOP mang đậm dấu ấn văn hóa và tiềm năng kinh tế rõ nét.
Từ món ăn dân dã thành hàng hóa giá trị cao
Từ món ăn dân dã thành hàng hóa giá trị cao
OVN - Từ những món ăn dân dã gắn bó với bữa cơm thường nhật của người dân, nhiều đặc sản của Thanh Hóa như mắm tép, tương làng Ái, măng rừng, bánh gai hay chè lam… đang từng bước bước ra khỏi không gian làng quê để trở thành những sản phẩm hàng hóa có giá trị cao.
Người Thái ở Điện Biên giữ hồn ẩm thực bằng sản phẩm OCOP
Người Thái ở Điện Biên giữ hồn ẩm thực bằng sản phẩm OCOP
Từ những nguyên liệu bình dị của núi rừng Tây Bắc, đồng bào Thái ở Điện Biên đã tạo nên những món ăn mang hương vị riêng không thể trộn lẫn. Qua thời gian, những đặc sản từng chỉ hiện diện trong mâm cơm gia đình nay được chuẩn hóa, xây dựng thương hiệu và khoác lên mình "tấm hộ chiếu" OCOP. Đó không chỉ là câu chuyện nâng tầm sản phẩm địa phương, mà còn là hành trình đưa bản sắc văn hóa dân tộc bước ra thị trường rộng lớn hơn.
Giữ hồn thổ cẩm trên non cao
Giữ hồn thổ cẩm trên non cao
Từ cây lanh trên nương đến những bộ trang phục rực rỡ sắc màu, nghề làm thổ cẩm của người Mông Đu ở xã Lao Chải đang được gìn giữ và phát huy theo hướng hàng hóa. Khi văn hóa trở thành tài nguyên phát triển, những sản phẩm thủ công truyền thống không chỉ giúp người dân tăng thu nhập mà còn mở ra cơ hội xây dựng sản phẩm OCOP gắn với du lịch cộng đồng và bản sắc vùng cao.
Hành trình vươn xa của cây măng đất Mường
Hành trình vươn xa của cây măng đất Mường
Gắn bó với đời sống đồng bào Mường ở phía Nam tỉnh Phú Thọ từ bao đời nay, cây măng không chỉ là sản vật của núi rừng mà còn là một phần trong văn hóa ẩm thực địa phương. Từ những cách chế biến truyền thống được lưu giữ qua nhiều thế hệ, thương hiệu măng Kim Bôi hôm nay đã được nâng tầm thành sản phẩm OCOP 5 sao Quốc gia, góp phần đưa đặc sản bản địa vươn xa trên thị trường trong và ngoài nước.
Trà hay Chè? Hành trình nghìn năm của một chiếc lá và hai cách gọi tên
Trà hay Chè? Hành trình nghìn năm của một chiếc lá và hai cách gọi tên
OVN - Lư trà quán ở phố Nguyễn Quý Đức (Hà Nội) - hay "quán trà ông già" như người địa phương vẫn gọi - đã hai mươi năm nay vẫn chỉ có tấm biển gỗ nhỏ xíu, phai màu đến mức tôi phải đi ngang ba lần mới nhận ra. Đó là cách của văn hóa trà: quán cũ, chỗ cũ, khách quen. Biết thì ghé, không cần quảng cáo. Chiều đông, ngồi nhấm nháp ở góc quen, tôi nhìn ông chủ rót trà im lặng. "Trà sen Tây Hồ" - dòng chữ mờ nhạt trên mặt bàn gỗ. Rồi tôi nghĩ đến quán vỉa hè cuối ngõ, nơi mấy bác thợ xây uống "chè" sau giờ tan ca. Cùng là lá, cùng là nước. Nhưng một bên gọi "trà" - thanh tao, một bên gọi "chè" - dân dã. Tại sao vậy? Câu trả lời nằm ở tận vùng núi Tứ Xuyên, cách đây hơn hai nghìn năm.

Tin khác

Chén trà phóng khoáng của người Việt
Chén trà phóng khoáng của người Việt
OVN - Có những ngày Hà Nội bừng dậy trong làn sương mịn, tiếng xe rì rầm chưa kịp thành dòng. Tôi bước ra phố, nghe đâu đó tiếng nước sôi “thở” trong chiếc ấm nhôm đã mòn vành, mùi trà xanh tỏa dịu như một lời chào cũ. Trà đối với người Việt chưa bao giờ chỉ là một thức uống. Nó như cái bóng mát của cây cổ thụ giữa trưa, như chút hơi ấm nơi hiên nhà mùa đông, và như lời mời mộc mạc của một dân tộc trọng nghĩa tình. Càng về sau càng nhận ra: cách người Việt uống trà chính là một trong những minh chứng rõ ràng nhất cho sự phóng khoáng, rộng mở mà vẫn thâm trầm của bản sắc văn hóa Việt. Trà ở Việt Nam cũng không buộc người ta phải ngồi ngay ngắn, không đòi hỏi một bộ trà cụ đúng chuẩn, cũng không ép ai phải tuân theo một quy tắc bất di bất dịch. Tại đây, người ta không cần “rào đón” nhiều, ấm trà đã nói hộ chủ nhà. Đặt ấm xuống bàn, rót chén đầu tiên, câu chuyện tự khắc tìm được lối đi. Người Việt uống trà theo cách tự nhiên nhất như họ sống, như họ đối xử với nhau vừa hồn hậu, vừa linh hoạt...
Căn bếp người Tày và câu chuyện OCOP
Căn bếp người Tày và câu chuyện OCOP
OVN - Ở xã Gia Phú (huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai), có một con ngõ nhỏ mà chỉ cần đi ngang qua, người ta đã thấy… đói. Không phải mùi cao lương mỹ vị, mà là hương nếp nương dẻo thơm quyện cùng sắc lá rừng, mùi bánh chưng gù vừa nhấc khỏi nồi, mùi xôi ngũ sắc còn vương hơi ấm. Từ những món ăn quen thuộc của đồng bào Tày, chị Vũ Thị Thủy Tiên đã từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất, ứng dụng công nghệ bảo quản hiện đại, đưa ẩm thực mộc mạc vùng cao trở thành sản phẩm OCOP 3 sao cấp tỉnh. Không chỉ tạo sinh kế ổn định cho gia đình và người dân địa phương, mô hình này còn góp phần lan tỏa giá trị ẩm thực truyền thống của vùng đất Lào Cai.
Bưởi Luận Văn: Sản vật tiến vua “hồi sinh”  thành sản phẩm OCOP 4 sao
Bưởi Luận Văn: Sản vật tiến vua “hồi sinh” thành sản phẩm OCOP 4 sao
Từng là sản vật dâng tiến nhà vua, dòng bưởi Luận Văn nay được người dân xã Lam Sơn gìn giữ, phát triển thành đặc sản có tiếng của xứ Thanh, theo chân thương lái vươn ra thị trường trong nước và quốc tế. Năm 2021, bưởi Luận Văn chính thức được công nhận OCOP 4 sao, khẳng định vị thế của một sản phẩm đặc sản quý hiếm.
Xóm Sưng: Dệt thổ cẩm, dệt nên sinh kế cho phụ nữ Dao Tiền
Xóm Sưng: Dệt thổ cẩm, dệt nên sinh kế cho phụ nữ Dao Tiền
OVN - Ở xóm Sưng, xã Cao Sơn, những tấm thổ cẩm Dao Tiền không chỉ là bản sắc văn hóa mà còn là nguồn sinh kế ổn định cho 12 phụ nữ, trong đó có người khuyết tật và hoàn cảnh khó khăn. Từ nghề truyền thống từng đối mặt nguy cơ mai một, Tổ hợp tác (THT) thổ cẩm Dao Tiền đã "hồi sinh" nhờ gắn kết với du lịch cộng đồng, mang về doanh thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Bốn thập kỷ giữ “lửa nghề”: Câu chuyện OCOP của thịt chua suối Sỏi
Bốn thập kỷ giữ “lửa nghề”: Câu chuyện OCOP của thịt chua suối Sỏi
OVN - Thịt chua vốn là món ăn dân dã của đồng bào dân tộc Mường, được làm từ những nguyên liệu quen thuộc và cách chế biến truyền thống. Ở Phú Thọ, bằng việc giữ vững hương vị bản địa và từng bước đầu tư sản xuất, thịt chua Suối Sỏi của Hợp tác xã (HTX) Thực phẩm Chiển Hướng, xã Cao Dương đã được công nhận OCOP 3 sao tháng 11/2024, mở ra hướng phát triển mới cho kinh tế địa phương.
Tiếng chiêng đánh thức hồn Mường
Tiếng chiêng đánh thức hồn Mường
OVN - Những ngày xuân ở miền núi phía Tây của Phú Thọ, trong những ngôi nhà sàn nép mình bên triền đồi, không khí ấm cúng, vui tươi hơn hẳn. Con đường nhỏ uốn lượn qua nương lúa, nương ngô dẫn vào bản làng người Mường như lối quay về với ký ức xa xăm của núi rừng. Dưới tiết trời đầu xuân, tiếng chiêng Mường vang lên trầm hùng, lan qua thung lũng, dội vào vách đá rồi ngân dài như lời gọi từ quá khứ. Âm thanh ấy không chỉ đánh thức một buổi sáng miền sơn cước mà còn đánh thức cả những tầng sâu của ký ức văn hóa xứ Mường.
7 sản phẩm OCOP từ một HTX: Công nghệ sấy dẻo của Quyết Thanh Mộc Châu
7 sản phẩm OCOP từ một HTX: Công nghệ sấy dẻo của Quyết Thanh Mộc Châu
OVN - Những ngày hè oi bức, khi du khách từ miền xuôi đổ về Mộc Châu thưởng ngoạn cao nguyên xanh mát và tìm kiếm những món snack tự nhiên, xưởng chế biến hoa quả sấy của HTX Nông nghiệp Quyết Thanh ở phường Thảo Nguyên, Mộc Châu tất bật từ sáng đến tối. Bước vào khu nhà xưởng tại tiểu khu Khí tượng, dễ nhận ra nhịp sản xuất khẩn trương nhưng gọn gàng, đâu ra đấy. Hơn chục công nhân có mặt từ sáng sớm, mỗi người một việc: từ lựa quả, đóng hộp, dán nhãn đến kiểm tra lần cuối trước khi xuất kho. Những khay mận đỏ sẫm, khay xoài vàng óng được xếp ngay ngắn, ánh lên sắc màu tự nhiên - thứ màu chỉ có thể có khi quả chín đúng độ và được sấy bằng công nghệ phù hợp. Không hương liệu, không chất bảo quản, vị ngọt ở đây đến từ chính nắng gió Mộc Châu và dây chuyền sấy hiện đại của một HTX đã tạo ra 7 sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 3-4 sao.
Xôi Phú Thượng: Hành trình một di sản sống giữa lòng Hà Nội
Xôi Phú Thượng: Hành trình một di sản sống giữa lòng Hà Nội
OVN - Trên những con phố Hà Nội từ tờ mờ sáng, hình ảnh thúng xôi bốc khói thơm ngậy đã trở thành một phần không thể tách rời của ký ức người dân thủ đô. Đằng sau gánh xôi giản dị ấy là cả một làng nghề trăm năm tuổi đang chuyển mình mạnh mẽ. Năm 2025, bốn sản phẩm xôi đặc trưng của phường Phú Thượng chính thức đạt chứng nhận OCOP 3 sao. Đây là cột mốc quan trọng khẳng định vị thế của một di sản ẩm thực đang sống và phát triển ngay giữa lòng Thủ đô.
Nếp nương gói ước mơ: Gen Z người Thái dệt sinh kế từ món bánh dân tộc
Nếp nương gói ước mơ: Gen Z người Thái dệt sinh kế từ món bánh dân tộc
OVN - Không chọn con đường quen thuộc của nhiều phụ nữvùng cao, Lò Chúc Chi - cô gái người dân tộc Thái ở phường Mường Lay (Điện Biên) đã bắt đầu hành trìnhkhởi nghiệp từ chính những chiếc bánh truyền thốngcủa dân tộc mình. Từ gian bếp nhỏ của bản Thái, khẩu xén, chí chọp từng bước trở thành sản phẩm OCOP, mở ra sinh kế mới cho phụ nữ địa phương và giữ lại mộtphần hồn cốt văn hóa Tây Bắc.
Cây quế tạo sinh kế cho nông dân Nghĩa Đô
Cây quế tạo sinh kế cho nông dân Nghĩa Đô
Đầu hè, không khí tại những vùng quế Lào Cai vẫn không giảm đi sự nhộn nhịp. Từ sáng sớm, người dân đã tất bật vào rừng bóc vỏ, vận chuyển quế xuống núi để kịp các chuyến thu mua. Với nhiều gia đình, đây không chỉ là mùa lao động nhộn nhịp mà còn là thời điểm hái ra tiền từ loại cây được ví như “vàng xanh” của miền sơn cước.
Mai Hạ gọi nắng, bếp gọi men rừng
Mai Hạ gọi nắng, bếp gọi men rừng
Giữa cái nắng đầu hè, xã Mai Hạ (tỉnh Phú Thọ) hiện ra không phải bằng sự choáng ngợp, mà bằng một thứ quyến rũ rất chậm. Đồi núi xanh rì, những nếp nhà sàn nép mình bên sườn núi, và đâu đó trong không khí, một mùi hương dìu dịu vừa ấm, vừa sâu, như gọi người ta dừng lại lâu hơn. Đó là hương của rượu Láu Siêu, thứ “men rừng” đã theo chân người Thái ở xóm Chiềng Hạ đi qua bao mùa nương rẫy, bao biến thiên của thời gian.
Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi
Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi
Những cây chè Shan tuyết cổ thụ ở Tà Xùa không phải mới xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây. Chúng đã đứng đó hàng trăm năm, bám rễ vào sườn núi đá, lặng lẽ hút sương mù và gió lạnh của vùng cao Tây Bắc. Nhiều thế hệ người Mông vẫn quen gọi chúng bằng một cái tên giản dị: “chè rừng”. Nhưng trong mắt những người làm trà, đó là một kho báu thiên nhiên hiếm có - thứ “vàng xanh” của núi cao. Từ tiềm năng của vùng chè di sản ấy, những năm gần đây, việc chế biến và xây dựng thương hiệu đã bắt đầu mở ra con đường mới cho loại trà đặc biệt này. Khi doanh nghiệp vào cuộc, những búp chè Shan tuyết không còn chỉ là nguyên liệu thô bán cho thương lái, mà dần trở thành sản phẩm mang giá trị cao mang theo hương vị và câu chuyện của núi rừng Tà Xùa.
Cao nguyên chín muộn: Mùa mận Mộc Châu dài thêm một nhịp
Cao nguyên chín muộn: Mùa mận Mộc Châu dài thêm một nhịp
Có những vườn vừa lấp lánh quả, vừa thấp thoáng hoa, như thể mùa mận đang được “chia ca” thay vì ùa về trong chốc lát. Bằng tay nghề và kỹ thuật, người nông dân kéo dài vị ngọt để cả cao nguyên có thêm mùa đón khách. Trên cao nguyên Mộc Châu, cây mận hậu từ lâu không chỉ là loài cây đặc trưng của vùng đất sương mờ mà còn là nguồn sinh kế quan trọng của hàng nghìn hộ dân. Với gần 3.500 ha mận hậu, đây là một trong những cây trồng chủ lực mang lại thu nhập ổn định cho người dân địa phương. Nhưng thay vì chỉ trông chờ vào vụ thu hoạch truyền thống diễn ra trong tháng 5 và tháng 6, nhiều nông dân Mộc Châu đang chủ động “điều khiển mùa vụ”, đưa mận chín sớm và kéo dài thời gian thu hoạch đến tận tháng 8. Nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào canh tác, những vườn mận trái vụ hôm nay không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao mà còn mở ra thêm sức hút mới cho du lịch trải nghiệm trên cao nguyên xanh.
Dệt ký ức, thêu tương lai: Người Lào ở Điện Biên giữ nghề, dựng sinh kế
Dệt ký ức, thêu tương lai: Người Lào ở Điện Biên giữ nghề, dựng sinh kế
Giữa nhịp sống hiện đại, khi thị trường may mặc công nghiệp ngày càng phát triển với vô vàn mẫu mã, sắc màu và chất liệu, ở nhiều bản làng của tỉnh Điện Biên, phụ nữ dân tộc Lào vẫn đều đặn ngồi bên khung cửi mỗi ngày. Tiếng thoi đưa vang lên trong những ngôi nhà sàn không chỉ là âm thanh của lao động, mà còn là nhịp giữ gìn bản sắc văn hóa đã được truyền qua nhiều thế hệ.
Tạo sinh kế cho phụ nữ bản từ... xơ mướp
Tạo sinh kế cho phụ nữ bản từ... xơ mướp
Ở vùng núi Cao Sơn, khi mùa mướp đi qua, trên những hàng rào gỗ và mái hiên nhà sàn thường còn sót lại vài quả mướp già khô quắt. Bao năm nay, người dân chỉ giữ lại để làm giống, hoặc tước xơ đem rửa bát. Chẳng ai nghĩ thứ nguyên liệu thô ráp như xơ mướp ấy có ngày trở thành tranh nghệ thuật, túi xách hay quà lưu niệm cho du khách.
Tin mới Đọc nhiều
Giao diện di động