Chén trà phóng khoáng của người Việt

OVN - Có những ngày Hà Nội bừng dậy trong làn sương mịn, tiếng xe rì rầm chưa kịp thành dòng. Tôi bước ra phố, nghe đâu đó tiếng nước sôi “thở” trong chiếc ấm nhôm đã mòn vành, mùi trà xanh tỏa dịu như một lời chào cũ. Trà đối với người Việt chưa bao giờ chỉ là một thức uống. Nó như cái bóng mát của cây cổ thụ giữa trưa, như chút hơi ấm nơi hiên nhà mùa đông, và như lời mời mộc mạc của một dân tộc trọng nghĩa tình. Càng về sau càng nhận ra: cách người Việt uống trà chính là một trong những minh chứng rõ ràng nhất cho sự phóng khoáng, rộng mở mà vẫn thâm trầm của bản sắc văn hóa Việt. Trà ở Việt Nam cũng không buộc người ta phải ngồi ngay ngắn, không đòi hỏi một bộ trà cụ đúng chuẩn, cũng không ép ai phải tuân theo một quy tắc bất di bất dịch. Tại đây, người ta không cần “rào đón” nhiều, ấm trà đã nói hộ chủ nhà. Đặt ấm xuống bàn, rót chén đầu tiên, câu chuyện tự khắc tìm được lối đi. Người Việt uống trà theo cách tự nhiên nhất như họ sống, như họ đối xử với nhau vừa hồn hậu, vừa linh hoạt...

Lá trà - hương của núi rừng và cội nguồn xa xưa

Người Việt uống trà từ bao giờ?

Người Việt uống trà từ bao giờ? Đọc sách xưa, ta thấy bóng dáng cây trà lẩn khuất trong nhiều mạch tư liệu. Một số khảo cứu hiện đại nhắc đến dấu tích hạt trà có niên đại hơn 13.000 năm ở Con Moong (Thanh Hóa), như một gợi ý rằng cây trà là loài bản địa từng hiện diện rất sớm trên đất Việt. Nhiều bài viết cũng khẳng định cây chè (Camellia sinensis) phân bố tự nhiên ở dải núi phía Bắc - Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên… Từ lâu, cư dân bản địa đã có thói quen hái lá chè rừng đun uống để giải nhiệt, để chữa bệnh, rồi dần dần thành thói quen sinh hoạt thường ngày.

Chén trà phóng khoáng của người Việt
Người dân vùng cao hái chè thủ công – gìn giữ thói quen uống trà từ thuở sơ khai.

Truyền thuyết trà thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương còn in dấu trà trong những địa danh “Bãi Chè”, “xóm Bông” ở làng Văn Luông, Văn Phú (Phú Thọ). Truyền thuyết kể rằng một vị quý phi của vua Hùng đã dạy dân trồng chè, trồng bông. Dù mang câu chuyện huyền tích nhưng điều chúng góp phần nói lên là: trà đã ở đây rất lâu, lâu đến mức người Việt coi nó là phần tự nhiên của đời sống. Và trà không phải một thứ văn hóa nhập vào rồi bén rễ. Nó đã là một phần trong huyết mạch của đất này từ buổi ban sơ.

Từ núi rừng đến kinh kỳ - hành trình lặng lẽ của chén trà Việt

Triều Lý - Trần: Hình thái “trà đạo phóng khoáng”

Từ thế kỷ X - XI, chén trà đã có mặt trong những dịp tiến vua, trong mùi hương nghi lễ của triều đình. Các thiền sư lặng lẽ nhấp từng ngụm để tĩnh tâm, để soi vào khoảng lặng bên trong, và từ hơi trà thanh ấy mà hình thành một “trà đạo Việt Nam” mềm hơn, thoáng hơn, phóng khoáng hơn những phép tắc phương Đông vốn quen khuôn vàng thước ngọc. Cái đạo ấy, cái vị ấy, dần dần trở thành một lối nghĩ, một nếp sống, một cách người Việt nhìn thế giới bằng sự giản dị mà sâu xa.

Trà trong thi ca thời Trần

Bởi vậy trong thi ca, bên cạnh những tiếng quân reo ngựa hí, những lời thơ rắn rỏi, ta lại thấy một Trần Quang Khải khác - thư thái, an nhiên - trong những câu thơ đượm hương trà mùa hạ:Thử lai yêu khách nghiêu trà uyển. Mùa hè lại pha trà mời khách uống Vũ quá hô đồng lý dược lan - Cơn mưa xong, gọi trẻ sửa chậu lan.

Trà trở thành người bạn khi sương sớm, lúc tàn canh, là giấc mơ thanh nhàn là đạo vị thanh thoát của người ẩn sĩ:

Hà thời kết ốc vân phong hạ | Bao giờ dưới núi làm nhà Cấp giản phanh trà chấm thạch miên | Nước suối trà pha, gối đá nằm

Hay như Nguyễn Trãi:

Say vì đạo, chè ba chén Tả lòng phiền, thơ bốn câu

Chén trà phóng khoáng của người Việt
Những búp trà non – khởi nguồn của một nét văn hóa kéo dài hàng nghìn năm.

Thế kỷ XVII - XVIII: Trà Việt lên đường giao thương

Bước sang thế kỷ XVII – XVIII, hơi trà Việt theo những con thuyền buôn rời mái hiên thôn quê để đến Hội An, Phố Hiến – những thương cảng phồn vinh bậc nhất. Trà ướp hoa, trà mạn, trà xanh… trở thành sản vật quý để trao đổi với bạn buôn năm châu. Người Việt bắt đầu trau chuốt kỹ thuật ướp sen, ướp nhài, ướp sói – mở ra những hương thơm tinh tế mà mỗi khi mở nắp hũ là như mở cả một khoảng trời thơm.

Hơi trà trong thơ ca và ca dao

Và cũng trong thời kỳ buôn thuyền nườm nượp ấy, Chu Thần Cao Bá Quát đã viết những câu thấm đượm hơi trà:

Thư nhàn hỏi lửa pha trà mới Thích thú tựa thông nhìn ráng sa

Hay trong ca dao, giữa nỗi nhớ mong dằng dặc vẫn thấp thoáng hình ảnh trà:

Chồng em còn ở sông Ngâu Buôn chè Mạn Hảo năm sau mới về

Thời Pháp thuộc: Trà Việt trong dòng chảy hiện đại

Đến đầu thế kỷ XX, dưới bóng những đồn điền và nhà máy trà Phú Thọ, Bảo Lộc, Nghĩa Lộ… hơi trà Việt lại rẽ thêm một nhánh lặng lẽ. Năm 1890, người Pháp lập đồn điền chè đầu tiên; năm 1925, nhà máy chế biến trà đầu tiên của Đông Dương ra đời, đưa trà Việt tới bàn tiệc châu Âu. Thập niên 1930, các vùng trà lớn hình thành, mở ra một diện mạo mới - rộng lớn, công nghiệp, nhưng vẫn mang hương những triền đồi mộc mạc.

Trà trong văn chương thời kỳ giao thời

Trong giai đoạn giao thời ấy, văn chương Việt Nam đã kịp ghi lại bóng trà trong những buổi chiều suy tư:

Người ta rượu sớm trà trưa Thân em đi sớm về trưa cả đời.

Hay:

Chú tôi hay tửu hay tăm Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa

Tú Xương cũng từng châm biếm nhẹ nhàng:

Chừa được cái gì hay cái nấy, Có chăng chừa rượu với chừa trà!

Chén trà phóng khoáng của người Việt
Tách trà nóng trên bàn gỗ cũ, giản dị mà ấm áp như nếp sống người Việt.

Người Việt uống trà - Không trọng nghi thức, trọng lòng hiếu khách

Sự giản dị trong cách pha và mời trà

Nếu tìm trong mỗi ngôi nhà Việt, từ thành thị đến thôn quê, hiếm ai không có một ấm trà. Dù là ấm tử sa, ấm Bát Tràng, ấm nhôm cũ kỹ hay ấm tích… tất cả đều phục vụ một mục đích giản dị: mời nhau chén nước trước khi nói chuyện.

Trà được pha nhanh, rót nhanh, và câu chuyện cũng mở ra nhanh. Không cần nghi lễ cầu kỳ, nhưng sự tôn trọng luôn hiện diện một cách tự nhiên.

Sự phóng khoáng trong muôn kiểu thưởng trà

Người Việt không cầu kỳ. Mỗi người một gu:

Trà xanh: vị chát tươi của đồng đất, mạnh mẽ và chân thật.

Trà mạn: đằm thắm, hậu vị sâu, dành cho những ai muốn ngẫm chuyện đời.

Trà ướp hương: nghệ thuật tinh tế với trà sen Tây Hồ, trà nhài, trà sói…

Trà đá: quốc dân vỉa hè, giản dị, dân dã nhưng không thể thiếu trong đời sống đô thị.

Trà trong giao tiếp - Nhịp tim của xã hội Việt

Ở Việt Nam, không có cuộc gặp gỡ nào thiếu trà. Cưới hỏi mời trà. Giỗ chạp mời trà. Thắp hương tổ tiên cũng dâng trà. Hàng xóm ghé chơi: vẫn là trà.

“Pha ấm trà đi con, có khách đến kìa” – câu nói giản dị nhưng chứa đựng cả truyền thống hiếu khách của người Việt.

Chén trà phóng khoáng của người Việt
Tách trà nhỏ nhưng chứa đựng cả một không gian ký ức và sự hiếu khách.

Sự phóng khoáng - Linh hồn của văn hóa trà Việt

Không giống trà đạo Trung Hoa chuẩn mực hay trà đạo Nhật Bản nghiêm cẩn, trà Việt chọn cách tồn tại mềm mại và phóng khoáng. Không công thức cố định. Không yêu cầu nghi lễ. Không phân biệt sang – hèn.

Trà Việt chỉ cần một điều: ai cũng có thể uống theo cách mình thích.

Chén trà có bóng dáng của quê hương

Tôi đã uống không biết bao nhiêu chén trà. Có chén vội vàng bên cổng trường, có chén trầm ngâm đêm khuya, có chén cùng bạn bè, có chén ngồi một mình.

Nhưng dù uống theo cách nào, tôi cũng nhận ra: Uống trà chính là chạm đến một phần đất đai, lịch sử và tâm hồn quê hương.

Và mỗi người uống theo cách của riêng mình. Không ai giống ai.

Đó chính là sự phóng khoáng đẹp nhất của trà Việt.

Tiệp Nguyễn

Tin liên quan

Tin mới hơn

Chén trà phóng khoáng của người Việt
Chén trà phóng khoáng của người Việt
OVN - Có những ngày Hà Nội bừng dậy trong làn sương mịn, tiếng xe rì rầm chưa kịp thành dòng. Tôi bước ra phố, nghe đâu đó tiếng nước sôi “thở” trong chiếc ấm nhôm đã mòn vành, mùi trà xanh tỏa dịu như một lời chào cũ. Trà đối với người Việt chưa bao giờ chỉ là một thức uống. Nó như cái bóng mát của cây cổ thụ giữa trưa, như chút hơi ấm nơi hiên nhà mùa đông, và như lời mời mộc mạc của một dân tộc trọng nghĩa tình. Càng về sau càng nhận ra: cách người Việt uống trà chính là một trong những minh chứng rõ ràng nhất cho sự phóng khoáng, rộng mở mà vẫn thâm trầm của bản sắc văn hóa Việt. Trà ở Việt Nam cũng không buộc người ta phải ngồi ngay ngắn, không đòi hỏi một bộ trà cụ đúng chuẩn, cũng không ép ai phải tuân theo một quy tắc bất di bất dịch. Tại đây, người ta không cần “rào đón” nhiều, ấm trà đã nói hộ chủ nhà. Đặt ấm xuống bàn, rót chén đầu tiên, câu chuyện tự khắc tìm được lối đi. Người Việt uống trà theo cách tự nhiên nhất như họ sống, như họ đối xử với nhau vừa hồn hậu, vừa linh hoạt...

Tin khác

Căn bếp người Tày và câu chuyện OCOP
Căn bếp người Tày và câu chuyện OCOP
OVN - Ở xã Gia Phú (huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai), có một con ngõ nhỏ mà chỉ cần đi ngang qua, người ta đã thấy… đói. Không phải mùi cao lương mỹ vị, mà là hương nếp nương dẻo thơm quyện cùng sắc lá rừng, mùi bánh chưng gù vừa nhấc khỏi nồi, mùi xôi ngũ sắc còn vương hơi ấm. Từ những món ăn quen thuộc của đồng bào Tày, chị Vũ Thị Thủy Tiên đã từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất, ứng dụng công nghệ bảo quản hiện đại, đưa ẩm thực mộc mạc vùng cao trở thành sản phẩm OCOP 3 sao cấp tỉnh. Không chỉ tạo sinh kế ổn định cho gia đình và người dân địa phương, mô hình này còn góp phần lan tỏa giá trị ẩm thực truyền thống của vùng đất Lào Cai.
Bưởi Luận Văn: Sản vật tiến vua “hồi sinh”  thành sản phẩm OCOP 4 sao
Bưởi Luận Văn: Sản vật tiến vua “hồi sinh” thành sản phẩm OCOP 4 sao
Từng là sản vật dâng tiến nhà vua, dòng bưởi Luận Văn nay được người dân xã Lam Sơn gìn giữ, phát triển thành đặc sản có tiếng của xứ Thanh, theo chân thương lái vươn ra thị trường trong nước và quốc tế. Năm 2021, bưởi Luận Văn chính thức được công nhận OCOP 4 sao, khẳng định vị thế của một sản phẩm đặc sản quý hiếm.
Xóm Sưng: Dệt thổ cẩm, dệt nên sinh kế cho phụ nữ Dao Tiền
Xóm Sưng: Dệt thổ cẩm, dệt nên sinh kế cho phụ nữ Dao Tiền
OVN - Ở xóm Sưng, xã Cao Sơn, những tấm thổ cẩm Dao Tiền không chỉ là bản sắc văn hóa mà còn là nguồn sinh kế ổn định cho 12 phụ nữ, trong đó có người khuyết tật và hoàn cảnh khó khăn. Từ nghề truyền thống từng đối mặt nguy cơ mai một, Tổ hợp tác (THT) thổ cẩm Dao Tiền đã "hồi sinh" nhờ gắn kết với du lịch cộng đồng, mang về doanh thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Bốn thập kỷ giữ “lửa nghề”: Câu chuyện OCOP của thịt chua suối Sỏi
Bốn thập kỷ giữ “lửa nghề”: Câu chuyện OCOP của thịt chua suối Sỏi
OVN - Thịt chua vốn là món ăn dân dã của đồng bào dân tộc Mường, được làm từ những nguyên liệu quen thuộc và cách chế biến truyền thống. Ở Phú Thọ, bằng việc giữ vững hương vị bản địa và từng bước đầu tư sản xuất, thịt chua Suối Sỏi của Hợp tác xã (HTX) Thực phẩm Chiển Hướng, xã Cao Dương đã được công nhận OCOP 3 sao tháng 11/2024, mở ra hướng phát triển mới cho kinh tế địa phương.
Tiếng chiêng đánh thức hồn Mường
Tiếng chiêng đánh thức hồn Mường
OVN - Những ngày xuân ở miền núi phía Tây của Phú Thọ, trong những ngôi nhà sàn nép mình bên triền đồi, không khí ấm cúng, vui tươi hơn hẳn. Con đường nhỏ uốn lượn qua nương lúa, nương ngô dẫn vào bản làng người Mường như lối quay về với ký ức xa xăm của núi rừng. Dưới tiết trời đầu xuân, tiếng chiêng Mường vang lên trầm hùng, lan qua thung lũng, dội vào vách đá rồi ngân dài như lời gọi từ quá khứ. Âm thanh ấy không chỉ đánh thức một buổi sáng miền sơn cước mà còn đánh thức cả những tầng sâu của ký ức văn hóa xứ Mường.
7 sản phẩm OCOP từ một HTX: Công nghệ sấy dẻo của Quyết Thanh Mộc Châu
7 sản phẩm OCOP từ một HTX: Công nghệ sấy dẻo của Quyết Thanh Mộc Châu
OVN - Những ngày hè oi bức, khi du khách từ miền xuôi đổ về Mộc Châu thưởng ngoạn cao nguyên xanh mát và tìm kiếm những món snack tự nhiên, xưởng chế biến hoa quả sấy của HTX Nông nghiệp Quyết Thanh ở phường Thảo Nguyên, Mộc Châu tất bật từ sáng đến tối. Bước vào khu nhà xưởng tại tiểu khu Khí tượng, dễ nhận ra nhịp sản xuất khẩn trương nhưng gọn gàng, đâu ra đấy. Hơn chục công nhân có mặt từ sáng sớm, mỗi người một việc: từ lựa quả, đóng hộp, dán nhãn đến kiểm tra lần cuối trước khi xuất kho. Những khay mận đỏ sẫm, khay xoài vàng óng được xếp ngay ngắn, ánh lên sắc màu tự nhiên - thứ màu chỉ có thể có khi quả chín đúng độ và được sấy bằng công nghệ phù hợp. Không hương liệu, không chất bảo quản, vị ngọt ở đây đến từ chính nắng gió Mộc Châu và dây chuyền sấy hiện đại của một HTX đã tạo ra 7 sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 3-4 sao.
Xôi Phú Thượng: Hành trình một di sản sống giữa lòng Hà Nội
Xôi Phú Thượng: Hành trình một di sản sống giữa lòng Hà Nội
OVN - Trên những con phố Hà Nội từ tờ mờ sáng, hình ảnh thúng xôi bốc khói thơm ngậy đã trở thành một phần không thể tách rời của ký ức người dân thủ đô. Đằng sau gánh xôi giản dị ấy là cả một làng nghề trăm năm tuổi đang chuyển mình mạnh mẽ. Năm 2025, bốn sản phẩm xôi đặc trưng của phường Phú Thượng chính thức đạt chứng nhận OCOP 3 sao. Đây là cột mốc quan trọng khẳng định vị thế của một di sản ẩm thực đang sống và phát triển ngay giữa lòng Thủ đô.
Nếp nương gói ước mơ: Gen Z người Thái dệt sinh kế từ món bánh dân tộc
Nếp nương gói ước mơ: Gen Z người Thái dệt sinh kế từ món bánh dân tộc
OVN - Không chọn con đường quen thuộc của nhiều phụ nữvùng cao, Lò Chúc Chi - cô gái người dân tộc Thái ở phường Mường Lay (Điện Biên) đã bắt đầu hành trìnhkhởi nghiệp từ chính những chiếc bánh truyền thốngcủa dân tộc mình. Từ gian bếp nhỏ của bản Thái, khẩu xén, chí chọp từng bước trở thành sản phẩm OCOP, mở ra sinh kế mới cho phụ nữ địa phương và giữ lại mộtphần hồn cốt văn hóa Tây Bắc.
Cây quế tạo sinh kế cho nông dân Nghĩa Đô
Cây quế tạo sinh kế cho nông dân Nghĩa Đô
Đầu hè, không khí tại những vùng quế Lào Cai vẫn không giảm đi sự nhộn nhịp. Từ sáng sớm, người dân đã tất bật vào rừng bóc vỏ, vận chuyển quế xuống núi để kịp các chuyến thu mua. Với nhiều gia đình, đây không chỉ là mùa lao động nhộn nhịp mà còn là thời điểm hái ra tiền từ loại cây được ví như “vàng xanh” của miền sơn cước.
Mai Hạ gọi nắng, bếp gọi men rừng
Mai Hạ gọi nắng, bếp gọi men rừng
Giữa cái nắng đầu hè, xã Mai Hạ (tỉnh Phú Thọ) hiện ra không phải bằng sự choáng ngợp, mà bằng một thứ quyến rũ rất chậm. Đồi núi xanh rì, những nếp nhà sàn nép mình bên sườn núi, và đâu đó trong không khí, một mùi hương dìu dịu vừa ấm, vừa sâu, như gọi người ta dừng lại lâu hơn. Đó là hương của rượu Láu Siêu, thứ “men rừng” đã theo chân người Thái ở xóm Chiềng Hạ đi qua bao mùa nương rẫy, bao biến thiên của thời gian.
Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi
Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi
Những cây chè Shan tuyết cổ thụ ở Tà Xùa không phải mới xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây. Chúng đã đứng đó hàng trăm năm, bám rễ vào sườn núi đá, lặng lẽ hút sương mù và gió lạnh của vùng cao Tây Bắc. Nhiều thế hệ người Mông vẫn quen gọi chúng bằng một cái tên giản dị: “chè rừng”. Nhưng trong mắt những người làm trà, đó là một kho báu thiên nhiên hiếm có - thứ “vàng xanh” của núi cao. Từ tiềm năng của vùng chè di sản ấy, những năm gần đây, việc chế biến và xây dựng thương hiệu đã bắt đầu mở ra con đường mới cho loại trà đặc biệt này. Khi doanh nghiệp vào cuộc, những búp chè Shan tuyết không còn chỉ là nguyên liệu thô bán cho thương lái, mà dần trở thành sản phẩm mang giá trị cao mang theo hương vị và câu chuyện của núi rừng Tà Xùa.
Cao nguyên chín muộn: Mùa mận Mộc Châu dài thêm một nhịp
Cao nguyên chín muộn: Mùa mận Mộc Châu dài thêm một nhịp
Có những vườn vừa lấp lánh quả, vừa thấp thoáng hoa, như thể mùa mận đang được “chia ca” thay vì ùa về trong chốc lát. Bằng tay nghề và kỹ thuật, người nông dân kéo dài vị ngọt để cả cao nguyên có thêm mùa đón khách. Trên cao nguyên Mộc Châu, cây mận hậu từ lâu không chỉ là loài cây đặc trưng của vùng đất sương mờ mà còn là nguồn sinh kế quan trọng của hàng nghìn hộ dân. Với gần 3.500 ha mận hậu, đây là một trong những cây trồng chủ lực mang lại thu nhập ổn định cho người dân địa phương. Nhưng thay vì chỉ trông chờ vào vụ thu hoạch truyền thống diễn ra trong tháng 5 và tháng 6, nhiều nông dân Mộc Châu đang chủ động “điều khiển mùa vụ”, đưa mận chín sớm và kéo dài thời gian thu hoạch đến tận tháng 8. Nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào canh tác, những vườn mận trái vụ hôm nay không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao mà còn mở ra thêm sức hút mới cho du lịch trải nghiệm trên cao nguyên xanh.
Dệt ký ức, thêu tương lai: Người Lào ở Điện Biên giữ nghề, dựng sinh kế
Dệt ký ức, thêu tương lai: Người Lào ở Điện Biên giữ nghề, dựng sinh kế
Giữa nhịp sống hiện đại, khi thị trường may mặc công nghiệp ngày càng phát triển với vô vàn mẫu mã, sắc màu và chất liệu, ở nhiều bản làng của tỉnh Điện Biên, phụ nữ dân tộc Lào vẫn đều đặn ngồi bên khung cửi mỗi ngày. Tiếng thoi đưa vang lên trong những ngôi nhà sàn không chỉ là âm thanh của lao động, mà còn là nhịp giữ gìn bản sắc văn hóa đã được truyền qua nhiều thế hệ.
Tạo sinh kế cho phụ nữ bản từ... xơ mướp
Tạo sinh kế cho phụ nữ bản từ... xơ mướp
Ở vùng núi Cao Sơn, khi mùa mướp đi qua, trên những hàng rào gỗ và mái hiên nhà sàn thường còn sót lại vài quả mướp già khô quắt. Bao năm nay, người dân chỉ giữ lại để làm giống, hoặc tước xơ đem rửa bát. Chẳng ai nghĩ thứ nguyên liệu thô ráp như xơ mướp ấy có ngày trở thành tranh nghệ thuật, túi xách hay quà lưu niệm cho du khách.
Giữ vị ngọt sông Đà trong từng sợi ruốc cá OCOP
Giữ vị ngọt sông Đà trong từng sợi ruốc cá OCOP
Vào hè, trên lòng hồ Hòa Bình, phường Hoà Bình mặt nước xanh màu ngọc bích. Những chiếc thuyền nhỏ lặng lẽ rẽ sóng giữa các dãy lồng cá nối nhau ven núi. Người dân vùng hồ vẫn quen gọi nơi đây là “biển trên núi”, bởi đây là nơi con sông Đà sau khi bị ngăn dòng đã để lại một vùng nước mênh mang, nuôi lớn bao phận người bằng nghề nuôi cá lồng. Từ những con cá nuôi giữa lòng hồ, giờ đây đã có những sản phẩm OCOP mang theo cả hương vị sông nước Tây Bắc đi xa. Trong đó, ruốc cá sông Đà của Công ty TNHH Hải Đăng Group, phường Hòa Bình (Phú Thọ), không chỉ là một món ăn, mà giống như thứ quà mang theo ký ức vùng hồ dành cho du khách sau mỗi chuyến đi.
Tin mới Đọc nhiều
Giao diện di động