Chén trà phóng khoáng của người Việt

OVN - Có những ngày Hà Nội bừng dậy trong làn sương mịn, tiếng xe rì rầm chưa kịp thành dòng. Tôi bước ra phố, nghe đâu đó tiếng nước sôi “thở” trong chiếc ấm nhôm đã mòn vành, mùi trà xanh tỏa dịu như một lời chào cũ. Trà đối với người Việt chưa bao giờ chỉ là một thức uống. Nó như cái bóng mát của cây cổ thụ giữa trưa, như chút hơi ấm nơi hiên nhà mùa đông, và như lời mời mộc mạc của một dân tộc trọng nghĩa tình. Càng về sau càng nhận ra: cách người Việt uống trà chính là một trong những minh chứng rõ ràng nhất cho sự phóng khoáng, rộng mở mà vẫn thâm trầm của bản sắc văn hóa Việt. Trà ở Việt Nam cũng không buộc người ta phải ngồi ngay ngắn, không đòi hỏi một bộ trà cụ đúng chuẩn, cũng không ép ai phải tuân theo một quy tắc bất di bất dịch. Tại đây, người ta không cần “rào đón” nhiều, ấm trà đã nói hộ chủ nhà. Đặt ấm xuống bàn, rót chén đầu tiên, câu chuyện tự khắc tìm được lối đi. Người Việt uống trà theo cách tự nhiên nhất như họ sống, như họ đối xử với nhau vừa hồn hậu, vừa linh hoạt...

Lá trà - hương của núi rừng và cội nguồn xa xưa

Người Việt uống trà từ bao giờ?

Người Việt uống trà từ bao giờ? Đọc sách xưa, ta thấy bóng dáng cây trà lẩn khuất trong nhiều mạch tư liệu. Một số khảo cứu hiện đại nhắc đến dấu tích hạt trà có niên đại hơn 13.000 năm ở Con Moong (Thanh Hóa), như một gợi ý rằng cây trà là loài bản địa từng hiện diện rất sớm trên đất Việt. Nhiều bài viết cũng khẳng định cây chè (Camellia sinensis) phân bố tự nhiên ở dải núi phía Bắc - Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên… Từ lâu, cư dân bản địa đã có thói quen hái lá chè rừng đun uống để giải nhiệt, để chữa bệnh, rồi dần dần thành thói quen sinh hoạt thường ngày.

Chén trà phóng khoáng của người Việt
Người dân vùng cao hái chè thủ công – gìn giữ thói quen uống trà từ thuở sơ khai.

Truyền thuyết trà thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương còn in dấu trà trong những địa danh “Bãi Chè”, “xóm Bông” ở làng Văn Luông, Văn Phú (Phú Thọ). Truyền thuyết kể rằng một vị quý phi của vua Hùng đã dạy dân trồng chè, trồng bông. Dù mang câu chuyện huyền tích nhưng điều chúng góp phần nói lên là: trà đã ở đây rất lâu, lâu đến mức người Việt coi nó là phần tự nhiên của đời sống. Và trà không phải một thứ văn hóa nhập vào rồi bén rễ. Nó đã là một phần trong huyết mạch của đất này từ buổi ban sơ.

Từ núi rừng đến kinh kỳ - hành trình lặng lẽ của chén trà Việt

Triều Lý - Trần: Hình thái “trà đạo phóng khoáng”

Từ thế kỷ X - XI, chén trà đã có mặt trong những dịp tiến vua, trong mùi hương nghi lễ của triều đình. Các thiền sư lặng lẽ nhấp từng ngụm để tĩnh tâm, để soi vào khoảng lặng bên trong, và từ hơi trà thanh ấy mà hình thành một “trà đạo Việt Nam” mềm hơn, thoáng hơn, phóng khoáng hơn những phép tắc phương Đông vốn quen khuôn vàng thước ngọc. Cái đạo ấy, cái vị ấy, dần dần trở thành một lối nghĩ, một nếp sống, một cách người Việt nhìn thế giới bằng sự giản dị mà sâu xa.

Trà trong thi ca thời Trần

Bởi vậy trong thi ca, bên cạnh những tiếng quân reo ngựa hí, những lời thơ rắn rỏi, ta lại thấy một Trần Quang Khải khác - thư thái, an nhiên - trong những câu thơ đượm hương trà mùa hạ:Thử lai yêu khách nghiêu trà uyển. Mùa hè lại pha trà mời khách uống Vũ quá hô đồng lý dược lan - Cơn mưa xong, gọi trẻ sửa chậu lan.

Trà trở thành người bạn khi sương sớm, lúc tàn canh, là giấc mơ thanh nhàn là đạo vị thanh thoát của người ẩn sĩ:

Hà thời kết ốc vân phong hạ | Bao giờ dưới núi làm nhà Cấp giản phanh trà chấm thạch miên | Nước suối trà pha, gối đá nằm

Hay như Nguyễn Trãi:

Say vì đạo, chè ba chén Tả lòng phiền, thơ bốn câu

Chén trà phóng khoáng của người Việt
Những búp trà non – khởi nguồn của một nét văn hóa kéo dài hàng nghìn năm.

Thế kỷ XVII - XVIII: Trà Việt lên đường giao thương

Bước sang thế kỷ XVII – XVIII, hơi trà Việt theo những con thuyền buôn rời mái hiên thôn quê để đến Hội An, Phố Hiến – những thương cảng phồn vinh bậc nhất. Trà ướp hoa, trà mạn, trà xanh… trở thành sản vật quý để trao đổi với bạn buôn năm châu. Người Việt bắt đầu trau chuốt kỹ thuật ướp sen, ướp nhài, ướp sói – mở ra những hương thơm tinh tế mà mỗi khi mở nắp hũ là như mở cả một khoảng trời thơm.

Hơi trà trong thơ ca và ca dao

Và cũng trong thời kỳ buôn thuyền nườm nượp ấy, Chu Thần Cao Bá Quát đã viết những câu thấm đượm hơi trà:

Thư nhàn hỏi lửa pha trà mới Thích thú tựa thông nhìn ráng sa

Hay trong ca dao, giữa nỗi nhớ mong dằng dặc vẫn thấp thoáng hình ảnh trà:

Chồng em còn ở sông Ngâu Buôn chè Mạn Hảo năm sau mới về

Thời Pháp thuộc: Trà Việt trong dòng chảy hiện đại

Đến đầu thế kỷ XX, dưới bóng những đồn điền và nhà máy trà Phú Thọ, Bảo Lộc, Nghĩa Lộ… hơi trà Việt lại rẽ thêm một nhánh lặng lẽ. Năm 1890, người Pháp lập đồn điền chè đầu tiên; năm 1925, nhà máy chế biến trà đầu tiên của Đông Dương ra đời, đưa trà Việt tới bàn tiệc châu Âu. Thập niên 1930, các vùng trà lớn hình thành, mở ra một diện mạo mới - rộng lớn, công nghiệp, nhưng vẫn mang hương những triền đồi mộc mạc.

Trà trong văn chương thời kỳ giao thời

Trong giai đoạn giao thời ấy, văn chương Việt Nam đã kịp ghi lại bóng trà trong những buổi chiều suy tư:

Người ta rượu sớm trà trưa Thân em đi sớm về trưa cả đời.

Hay:

Chú tôi hay tửu hay tăm Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa

Tú Xương cũng từng châm biếm nhẹ nhàng:

Chừa được cái gì hay cái nấy, Có chăng chừa rượu với chừa trà!

Chén trà phóng khoáng của người Việt
Tách trà nóng trên bàn gỗ cũ, giản dị mà ấm áp như nếp sống người Việt.

Người Việt uống trà - Không trọng nghi thức, trọng lòng hiếu khách

Sự giản dị trong cách pha và mời trà

Nếu tìm trong mỗi ngôi nhà Việt, từ thành thị đến thôn quê, hiếm ai không có một ấm trà. Dù là ấm tử sa, ấm Bát Tràng, ấm nhôm cũ kỹ hay ấm tích… tất cả đều phục vụ một mục đích giản dị: mời nhau chén nước trước khi nói chuyện.

Trà được pha nhanh, rót nhanh, và câu chuyện cũng mở ra nhanh. Không cần nghi lễ cầu kỳ, nhưng sự tôn trọng luôn hiện diện một cách tự nhiên.

Sự phóng khoáng trong muôn kiểu thưởng trà

Người Việt không cầu kỳ. Mỗi người một gu:

Trà xanh: vị chát tươi của đồng đất, mạnh mẽ và chân thật.

Trà mạn: đằm thắm, hậu vị sâu, dành cho những ai muốn ngẫm chuyện đời.

Trà ướp hương: nghệ thuật tinh tế với trà sen Tây Hồ, trà nhài, trà sói…

Trà đá: quốc dân vỉa hè, giản dị, dân dã nhưng không thể thiếu trong đời sống đô thị.

Trà trong giao tiếp - Nhịp tim của xã hội Việt

Ở Việt Nam, không có cuộc gặp gỡ nào thiếu trà. Cưới hỏi mời trà. Giỗ chạp mời trà. Thắp hương tổ tiên cũng dâng trà. Hàng xóm ghé chơi: vẫn là trà.

“Pha ấm trà đi con, có khách đến kìa” – câu nói giản dị nhưng chứa đựng cả truyền thống hiếu khách của người Việt.

Chén trà phóng khoáng của người Việt
Tách trà nhỏ nhưng chứa đựng cả một không gian ký ức và sự hiếu khách.

Sự phóng khoáng - Linh hồn của văn hóa trà Việt

Không giống trà đạo Trung Hoa chuẩn mực hay trà đạo Nhật Bản nghiêm cẩn, trà Việt chọn cách tồn tại mềm mại và phóng khoáng. Không công thức cố định. Không yêu cầu nghi lễ. Không phân biệt sang – hèn.

Trà Việt chỉ cần một điều: ai cũng có thể uống theo cách mình thích.

Chén trà có bóng dáng của quê hương

Tôi đã uống không biết bao nhiêu chén trà. Có chén vội vàng bên cổng trường, có chén trầm ngâm đêm khuya, có chén cùng bạn bè, có chén ngồi một mình.

Nhưng dù uống theo cách nào, tôi cũng nhận ra: Uống trà chính là chạm đến một phần đất đai, lịch sử và tâm hồn quê hương.

Và mỗi người uống theo cách của riêng mình. Không ai giống ai.

Đó chính là sự phóng khoáng đẹp nhất của trà Việt.

Tiệp Nguyễn

Tin liên quan

Tin mới hơn

Mật ong U Minh: Giọt ngọt từ rừng tràm phương Nam
Mật ong U Minh: Giọt ngọt từ rừng tràm phương Nam
ocopvietnam - Giữa những cánh rừng tràm rộng lớn của U Minh Thượng (Kiên Giang), nghề gác kèo ong đã tồn tại qua nhiều thế hệ như một cách con người chung sống hài hòa với thiên nhiên. Từ những giọt mật chắt lọc giữa mùa hoa tràm, người dân nơi đây đang từng bước nâng tầm sản vật bản địa thành sản phẩm OCOP, vừa tạo sinh kế bền vững, vừa góp phần giữ gìn hệ sinh thái rừng ngập nước đặc trưng của phương Nam.
Gửi giá trị văn hóa vào sản vật miền Trung
Gửi giá trị văn hóa vào sản vật miền Trung
OVN - Với tâm niệm muốn cống hiến, tạo ra sản phẩm tử tế cho người Việt từ chính nguồn nguyên liệu bản địa, chị Trịnh Thị Kim Tuyến đã dành trọn tâm huyết phát triển dòng trầm sạch, mang thương hiệu “Dana Trầm Hương” tại TP. Đà Nẵng. Hướng đi này vừa giải quyết bài toán định vị thương hiệu giữa lúc thị trường bão hòa, vừa tạo nền tảng giúp sản phẩm OCOP địa phương bứt phá.
Sau ánh đèn hội chợ, OCOP cần gì để đi xa?
Sau ánh đèn hội chợ, OCOP cần gì để đi xa?
ocopvietnam - Có những buổi sáng ở miền núi phía Bắc, sương còn vướng trên những triền dược liệu. Dưới thung lũng, những lò sấy nhỏ đã đỏ lửa. Ở miền Trung, trong căn nhà mới sửa cạnh con đường liên thôn, vài chục chai tinh dầu được xếp ngay ngắn trên kệ gỗ. Ở đồng bằng, người ta nâng niu những túi trà thảo mộc, những hũ cao dược liệu, những gói bột nông sản với một niềm tin rất thật: sản phẩm quê hương mình rồi sẽ đi xa.
“Giọt đắng” giữ lá gan
“Giọt đắng” giữ lá gan
ocopvietnam - Có thời điểm, những ruộng cà gai leo trên vùng đất Yên Thủy, tỉnh Hoà Bình cũ (nay thuộc tỉnh Phú Thọ) từng đứng trước nguy cơ bị nhổ bỏ. Giá thu mua lao dốc, đầu ra bấp bênh khiến không ít hộ dân chùn bước sau những mùa vụ đầy kỳ vọng. Thế nhưng, cũng từ giai đoạn khó khăn ấy, người dân và hợp tác xã (HTX) đã lựa chọn một con đường khác: không chạy theo diện tích, mà xây dựng chuỗi giá trị từ vùng nguyên liệu sạch đến sản phẩm chế biến mang thương hiệu riêng.
Tinh dầu xoa bóp Nhất Phong - giải pháp cho bệnh cơ xương khớp
Tinh dầu xoa bóp Nhất Phong - giải pháp cho bệnh cơ xương khớp
ocopvietnam - Mùi thơm của tinh dầu luôn gợi nhớ đến những nồi lá thuốc mẹ từng đun mỗi khi trái gió trở trời. Hôm nay, những bài thuốc dân gian ấy không còn chỉ nằm trong ký ức hay những vườn cây sau nhà, mà đang được chuẩn hóa thành các sản phẩm chăm sóc sức khỏe mang dấu ấn dược liệu Việt
Chắt chiu tinh tuý từ cây thuốc xứ Mường
Chắt chiu tinh tuý từ cây thuốc xứ Mường
ocopvietnam - Ở phía Nam tỉnh Phú thọ, nếu cam Cao Phong gợi nhớ đến vị ngọt của đất, thì xã Yên Trị lại lưu giữ một "vị đắng" rất riêng. Đó là vị đắng của cây xạ đen - loại dược liệu đã gắn bó với người Mường qua nhiều thế hệ.

Tin khác

Hành trình “kết tinh” bột sắn dây Nhuận Trạch
Hành trình “kết tinh” bột sắn dây Nhuận Trạch
ocopvietnam - Từ loại cây chỉ được trồng quanh vườn để phục vụ nhu cầu gia đình, sắn dây ở vùng Nhuận Trạch (nay thuộc xã Lương Sơn, tỉnh Phú Thọ) đã từng bước trở thành cây hàng hóa. Việc hình thành vùng nguyên liệu, đầu tư chế biến và xây dựng thương hiệu OCOP không chỉ mở rộng đầu ra cho sản phẩm, mà còn góp phần nâng giá trị nông sản địa phương.
Bí ẩn cây "chuối ma" và tủ thuốc xanh vô giá của người Mông
Bí ẩn cây "chuối ma" và tủ thuốc xanh vô giá của người Mông
ocopvietnam - Giữa đại ngàn Co Mạ (Sơn La), đồng bào dân tộc Mông vẫn rỉ tai nhau về “chớ pỏ dông” – một loài chuối kỳ lạ với vóc dáng thấp bé, ròng rã 3-4 năm trời mới chịu bung nở một mùa hoa. Không kết trái để ăn, loài cây mang biệt danh "chuối ma" ấy được đồng bào lặng lẽ nhân giống và gìn giữ nơi góc vườn như một bài thuốc Nam bí truyền, đồng thời là mảnh ghép ký ức không thể thiếu của bản làng.
Khởi nghiệp từ mảnh vườn dược liệu gia truyền
Khởi nghiệp từ mảnh vườn dược liệu gia truyền
ocopvietnam - Giữa làn sóng khởi nghiệp công nghệ số hay mô hình kinh doanh hiện đại, chàng sinh viên ngành Y học cổ truyền Đặng Vũ Nhân (phường Điện Bàn, Đà Nẵng) lại chọn một lối đi hoàn toàn khác biệt: Khởi nghiệp từ mảnh vườn dược liệu gia truyền.
Bạch Mã Vạn Xuân đưa tinh túy sâm Việt đến gần hơn với cộng đồng
Bạch Mã Vạn Xuân đưa tinh túy sâm Việt đến gần hơn với cộng đồng
ocopvietnam - Bắt nguồn từ mong muốn chia sẻ và lan tỏa giá trị của sâm đến cộng đồng, Công ty Dược phẩm Bạch Mã Vạn Xuân tập trung nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ để tạo ra các sản phẩm tiện dụng, góp phần đưa những giá trị quý từ sâm Việt đến gần hơn với người tiêu dùng.
Chiến lược đưa sâm Ngọc Linh thoát mác
Chiến lược đưa sâm Ngọc Linh thoát mác 'giá trên trời'
ocopvietnam - Bằng cách đa dạng hóa sản phẩm, số hóa vùng trồng và thay đổi tư duy định giá, doanh nghiệp sản xuất, chế biến sâm Ngọc Linh đang dần xóa bỏ định kiến về một loại dược liệu xa xỉ để tiếp cận người tiêu dùng phổ thông.
Na Chi Lăng tạo sức hút tại Hà Nội, tiêu thụ hơn 1,2 tấn chỉ trong 3 ngày
Na Chi Lăng tạo sức hút tại Hà Nội, tiêu thụ hơn 1,2 tấn chỉ trong 3 ngày
OVN - Không chỉ nổi tiếng bởi hương vị thơm ngọt đặc trưng, na Chi Lăng (Lạng Sơn) đang ngày càng khẳng định sức hút trên thị trường khi được đưa đến gần hơn với người tiêu dùng thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại hiện đại. Chỉ trong 3 ngày giới thiệu tại Hà Nội, hơn 1,2 tấn na Chi Lăng đã được tiêu thụ, mở ra thêm cơ hội mở rộng thị trường cho đặc sản xứ Lạng.
Chè Tán Ma: Từ thức uống bản làng đến khát vọng OCOP
Chè Tán Ma: Từ thức uống bản làng đến khát vọng OCOP
OVN - Từ những đồi chè bản địa được chế biến hoàn toàn thủ công, chè Tán Ma của xã Trung Hạ (Thanh Hóa) đang bước vào hành trình trở thành sản phẩm OCOP. Đây không chỉ là câu chuyện về một loại trà truyền thống của người Thái, mà còn là minh chứng cho cách một sản phẩm bản địa có thể chuyển mình, gìn giữ giá trị văn hóa đồng thời nâng cao sinh kế cho cộng đồng vùng cao.
Hương quế Trà Bồng - dịu dàng lan xa, nâng bước sản phẩm OCOP 4 sao
Hương quế Trà Bồng - dịu dàng lan xa, nâng bước sản phẩm OCOP 4 sao
OVN - Từ miền núi Trà Bồng (Quảng Ngãi), nơi hương quế len lỏi trong từng nếp sống, những nén nhang quế mộc mạc đang lặng lẽ vươn xa, mang theo câu chuyện về bản sắc, về sự gìn giữ và khát vọng phát triển bền vững của người dân vùng cao.
Cu đơ Hà Tĩnh - Khi mật mía, lạc rang kể câu chuyện làng quê
Cu đơ Hà Tĩnh - Khi mật mía, lạc rang kể câu chuyện làng quê
OVN - Giữa miền Trung nắng gió, nơi đất đai khắc nghiệt nhưng con người lại giàu nghị lực và sự tinh tế, kẹo cu đơ ra đời như một minh chứng cho cách người Hà Tĩnh chắt chiu từng nguyên liệu giản dị để tạo nên một hương vị không thể trộn lẫn. Từ món quà quê mộc mạc, cu đơ ngày nay đang bước ra khỏi không gian làng xóm, trở thành sản phẩm OCOP mang đậm dấu ấn văn hóa và tiềm năng kinh tế rõ nét.
Từ món ăn dân dã thành hàng hóa giá trị cao
Từ món ăn dân dã thành hàng hóa giá trị cao
OVN - Từ những món ăn dân dã gắn bó với bữa cơm thường nhật của người dân, nhiều đặc sản của Thanh Hóa như mắm tép, tương làng Ái, măng rừng, bánh gai hay chè lam… đang từng bước bước ra khỏi không gian làng quê để trở thành những sản phẩm hàng hóa có giá trị cao.
Người Thái ở Điện Biên giữ hồn ẩm thực bằng sản phẩm OCOP
Người Thái ở Điện Biên giữ hồn ẩm thực bằng sản phẩm OCOP
Từ những nguyên liệu bình dị của núi rừng Tây Bắc, đồng bào Thái ở Điện Biên đã tạo nên những món ăn mang hương vị riêng không thể trộn lẫn. Qua thời gian, những đặc sản từng chỉ hiện diện trong mâm cơm gia đình nay được chuẩn hóa, xây dựng thương hiệu và khoác lên mình "tấm hộ chiếu" OCOP. Đó không chỉ là câu chuyện nâng tầm sản phẩm địa phương, mà còn là hành trình đưa bản sắc văn hóa dân tộc bước ra thị trường rộng lớn hơn.
Giữ hồn thổ cẩm trên non cao
Giữ hồn thổ cẩm trên non cao
Từ cây lanh trên nương đến những bộ trang phục rực rỡ sắc màu, nghề làm thổ cẩm của người Mông Đu ở xã Lao Chải đang được gìn giữ và phát huy theo hướng hàng hóa. Khi văn hóa trở thành tài nguyên phát triển, những sản phẩm thủ công truyền thống không chỉ giúp người dân tăng thu nhập mà còn mở ra cơ hội xây dựng sản phẩm OCOP gắn với du lịch cộng đồng và bản sắc vùng cao.
Hương trà từ miền mây trắng
Hương trà từ miền mây trắng
Không còn dừng ở vai trò cây trồng truyền thống, chè Shan tuyết Hồng Thái đang trở thành câu chuyện thành công về nâng tầm giá trị nông sản địa phương. Từ vùng nguyên liệu trên núi cao đến sản phẩm OCOP 5 sao quốc gia, hành trình ấy cho thấy khi chất lượng, bản sắc và tư duy thị trường gặp nhau, một đặc sản vùng cao hoàn toàn có thể chinh phục những phân khúc khách hàng khắt khe nhất.
Hành trình vươn xa của cây măng đất Mường
Hành trình vươn xa của cây măng đất Mường
Gắn bó với đời sống đồng bào Mường ở phía Nam tỉnh Phú Thọ từ bao đời nay, cây măng không chỉ là sản vật của núi rừng mà còn là một phần trong văn hóa ẩm thực địa phương. Từ những cách chế biến truyền thống được lưu giữ qua nhiều thế hệ, thương hiệu măng Kim Bôi hôm nay đã được nâng tầm thành sản phẩm OCOP 5 sao Quốc gia, góp phần đưa đặc sản bản địa vươn xa trên thị trường trong và ngoài nước.
Chén trà phóng khoáng của người Việt
Chén trà phóng khoáng của người Việt
OVN - Có những ngày Hà Nội bừng dậy trong làn sương mịn, tiếng xe rì rầm chưa kịp thành dòng. Tôi bước ra phố, nghe đâu đó tiếng nước sôi “thở” trong chiếc ấm nhôm đã mòn vành, mùi trà xanh tỏa dịu như một lời chào cũ. Trà đối với người Việt chưa bao giờ chỉ là một thức uống. Nó như cái bóng mát của cây cổ thụ giữa trưa, như chút hơi ấm nơi hiên nhà mùa đông, và như lời mời mộc mạc của một dân tộc trọng nghĩa tình. Càng về sau càng nhận ra: cách người Việt uống trà chính là một trong những minh chứng rõ ràng nhất cho sự phóng khoáng, rộng mở mà vẫn thâm trầm của bản sắc văn hóa Việt. Trà ở Việt Nam cũng không buộc người ta phải ngồi ngay ngắn, không đòi hỏi một bộ trà cụ đúng chuẩn, cũng không ép ai phải tuân theo một quy tắc bất di bất dịch. Tại đây, người ta không cần “rào đón” nhiều, ấm trà đã nói hộ chủ nhà. Đặt ấm xuống bàn, rót chén đầu tiên, câu chuyện tự khắc tìm được lối đi. Người Việt uống trà theo cách tự nhiên nhất như họ sống, như họ đối xử với nhau vừa hồn hậu, vừa linh hoạt...
Tin mới Đọc nhiều
Giao diện di động