Trà hay Chè? Hành trình nghìn năm của một chiếc lá và hai cách gọi tên

OVN - Lư trà quán ở phố Nguyễn Quý Đức (Hà Nội) - hay "quán trà ông già" như người địa phương vẫn gọi - đã hai mươi năm nay vẫn chỉ có tấm biển gỗ nhỏ xíu, phai màu đến mức tôi phải đi ngang ba lần mới nhận ra. Đó là cách của văn hóa trà: quán cũ, chỗ cũ, khách quen. Biết thì ghé, không cần quảng cáo. Chiều đông, ngồi nhấm nháp ở góc quen, tôi nhìn ông chủ rót trà im lặng. "Trà sen Tây Hồ" - dòng chữ mờ nhạt trên mặt bàn gỗ. Rồi tôi nghĩ đến quán vỉa hè cuối ngõ, nơi mấy bác thợ xây uống "chè" sau giờ tan ca. Cùng là lá, cùng là nước. Nhưng một bên gọi "trà" - thanh tao, một bên gọi "chè" - dân dã. Tại sao vậy? Câu trả lời nằm ở tận vùng núi Tứ Xuyên, cách đây hơn hai nghìn năm.

Từ "Khổ Đồ" đến cuộc cách mạng của Lục Vũ

Nhiều người mặc nhiên cho rằng trà là thức uống khởi nguồn từ văn minh Hoa Hạ, từ những triều đại rực rỡ ở Trung Nguyên. Nhưng thực tế, những người đầu tiên hái lá và đun nước uống lại là các tộc người ở vùng Ba Thục (Tứ Xuyên) và Vân Nam - những vùng đất nằm ngoài rìa văn hóa Trung Nguyên lúc bấy giờ. Đây là miền núi cao, sương mù, nơi cây trà hoang dại mọc um tùm trên các triền dốc.

Trong tiếng Thục cổ, thứ lá có vị đắng ấy được gọi là "khổ đồ" (苦荼). Chữ "khổ" nghĩa là đắng - phản ánh cảm nhận đầu tiên khi nhai sống lá trà tươi. Còn "đồ" là âm mượn từ ngôn ngữ của các cư dân bản địa thuộc ngữ hệ Thái-Kadai, phân bố từ Vân Nam đến Quảng Tây và cả miền Bắc Việt Nam. Sự vay mượn này cho thấy trà không phải là "phát minh" của một dân tộc duy nhất, mà là kết quả của sự giao thoa văn hóa giữa nhiều cộng đồng người.

Và rồi những dãy núi ấy không dừng ở biên giới Vân Nam. Chúng nối dài xuống phía nam, qua Lai Châu, Hà Giang, Yên Bái - nơi cho đến ngày nay, chúng ta vẫn tìm thấy những rừng trà cổ thụ hơn nghìn năm tuổi. Ở Suối Giàng (Hà Giang), những cây chè shan tuyết già cỗi vươn cao trên núi đá vôi, thân cây mấy người ôm, rễ bám chặt vào kẽ đá. Người dân tộc Mông, Dao gọi đó là "chè trời cho" - không ai trồng, không ai chăm, chỉ có hái.

Điều này cho thấy: trà không chỉ "du nhập" từ phương Bắc, mà đã có mặt trên đất Việt từ thời tiền sử, như một phần của cùng một vùng sinh thái. Những chiếc lá đắng ấy đã thấm vào văn hóa bản địa lâu trước khi chữ viết xuất hiện. Có lẽ vì thế mà từ "chè" trong tiếng Việt mang âm hưởng gần gũi, thân quen như chính mảnh đất này.

Trà hay Chè? Hành trình nghìn năm của một chiếc lá và hai cách gọi tên
Búp trà non vươn mình giữa sương núi, khởi nguồn của hành trình văn hóa kéo dài hàng nghìn năm.

Ban đầu, trà chỉ được coi là một loại thuốc giải độc, hoặc trong những trường hợp tốt hơn, là rau ăn. Suốt một thời gian dài, người ta dùng chung chữ Đồ (荼) để chỉ cả cây rau đắng lẫn cây trà, khiến việc phân biệt trở nên rối rắm. Phải đến khi trà dần thoát khỏi vị thế của một vị thuốc hay rau ăn, trở thành thức uống tao nhã của giới văn nhân và quý tộc, nhu cầu "định danh" riêng mới trở nên cấp thiết.

Và đây là lúc một cuộc "cách mạng văn tự" âm thầm diễn ra. Người ta gạch bỏ một nét ngang của chữ Đồ (荼) để khai sinh ra chữ Trà (茶) - một chữ hoàn toàn mới, dành riêng cho cây chè. Từ đó, trà có một thân phận riêng, tách biệt hoàn toàn với các loài thảo mộc khác. Sự thay đổi này không chỉ là kỹ thuật, mà còn phản ánh một cuộc chuyển mình trong nhận thức văn hóa: trà đã trở thành biểu tượng của sự thanh tao, của đời sống tinh thần.

Công cuộc "chính danh" này được hoàn tất nhờ Lục Vũ đời Đường (733-804), khi ông biên soạn bộ Trà Kinh (Chá Jīng) bất hủ - cuốn sách đầu tiên trên thế giới viết một cách hệ thống về trà, từ nguồn gốc, cách trồng, chế biến, đến nghệ thuật thưởng thức. Từ đó, chữ Trà (茶) trở thành chuẩn mực được ghi nhận trong tất cả các nước sử dụng chữ Hán.

Trà hay Chè? Hành trình nghìn năm của một chiếc lá và hai cách gọi tên
Trà Kinh của Lục Vũ được xem là tác phẩm đầu tiên hệ thống hóa nghệ thuật và văn hóa thưởng trà.

Hành trình thiên lý của hai âm "Cha" và "Tê"

Nếu nhìn vào bản đồ ngôn ngữ thế giới ngày nay, ta sẽ thấy một điều thú vị: cách các quốc gia gọi tên trà chính là tấm bản đồ sống phản chiếu các con đường thương mại cổ xưa. Chữ Trà (茶) không chỉ là văn tự, mà còn là âm thanh - và âm thanh ấy đã đi khắp năm châu theo hai ngả chính.

Từ cái nôi Trung Hoa, chữ Trà đã "xuất ngoại" theo hai âm đọc của các phương ngữ. Những thương nhân đi theo con đường tơ lụa trên đất liền, hoặc xuất phát từ vùng Quảng Đông - nơi phát âm là "Cha" (茶) - đã mang cái tên này đến Ba Tư (chai), Ấn Độ (chāy), Thổ Nhĩ Kỳ (çay), Nga (chay), và thậm chí cả tiếng Bồ Đào Nha (chá) vì người Bồ buôn bán qua cảng Macau. Con đường Lục địa này để lại dấu ấn âm "cha" sâu đậm ở khắp châu Á và Trung Đông.

Ngược lại, các thương thuyền Hà Lan thế kỷ XVII cập cảng Hạ Môn (Amoy) ở Phúc Kiến - nơi phương ngữ Mân Nam đọc là "Tê" (茶) - đã mang âm này về châu Âu, biến đổi thành thee (Hà Lan), thé (Pháp), tea (Anh), Tee (Đức), té (Tây Ban Nha). Người Hà Lan là nhà buôn trà lớn nhất châu Âu thế kỷ XVII, nên âm "tê" đã lan tỏa khắp các thuộc địa cũ của họ và cả Bắc Mỹ.

Thật kỳ diệu khi chỉ một chữ, hai cách đọc, nhưng đã vẽ nên cả một bức tranh lịch sử thương mại toàn cầu.

Trà hay Chè? Hành trình nghìn năm của một chiếc lá và hai cách gọi tên
Tên gọi của trà trên thế giới là "tấm bản đồ sống" ghi dấu những hành trình thương mại và giao lưu văn hóa xuyên lục địa.

Chữ 茶 trong tiếng Trung có hai cách đọc chính theo phương ngữ:

"Cha" (茶): Cách đọc ở Quảng Đông (Cantonese). Người Bồ Đào Nha tiếp xúc với cư dân Macau thế kỷ XVI, mượn âm này thành "chá". Con đường Lục địa đưa âm "cha" đến Đông Âu, Trung Á, Ba Tư (chai), Nga (chay), Thổ Nhĩ Kỳ (çay).

"Tê" (茶): Cách đọc ở Mân Nam (Phúc Kiến), đặc biệt qua cảng Hạ Môn (Amoy). Người Hà Lan thế kỷ XVII buôn bán trà qua cảng này, mang âm "tê" về châu Âu thành "thee". Từ đó lan ra: tiếng Anh (tea), Pháp (thé), Đức (Tee), Tây Ban Nha (té)...

Bản đồ thế giới ngày nay về tên gọi trà chính là bản đồ của hai con đường thương mại lịch sử!

Trà và Chè: Hai dòng chảy trong tâm thức Việt

Việt Nam, với vị thế "núi liền núi, sông liền sông", đã tiếp nhận cả hai dòng chảy văn hóa ấy, nhưng theo một cách rất riêng. Chúng ta không chỉ nhận một từ, mà nhận cả hai - và cả hai đều sống, đều thấm vào đời sống hàng ngày.

"Chè" là lớp từ vựng cổ, du nhập vào nước ta từ trước thời Đường (trước 602-907) qua con đường khẩu ngữ dân gian. Có lẽ nó đến từ những cư dân biên giới, những người buôn bán nhỏ lẻ qua núi Quảng Tây, Vân Nam. "Chè" mộc mạc, gần gũi, gắn liền với những ấm chè xanh, chè nụ nơi thôn dã, với chè tàu đắng chát buổi sáng, với chè đậu xanh mát lạnh mùa hè. Nó thuộc về dân gian, về cuộc sống thường nhật.

Nguyễn Trãi, vị ức Trai tiên sinh thanh cao, khi về ở ẩn Côn Sơn sau biến cố Lệ Chi Viên, đã viết trong bài Tự thán:

"Phong lưu mòn mỏi ba đường cúc,

Ngày tháng tiêu ma một bát chè."

Ông không viết "trà" mà viết "chè" - một lựa chọn không hề ngẫu nhiên. Đó là cách ông thể hiện sự giản dị, bình dị, gần gũi với thiên nhiên và cuộc sống thanh đạm sau những năm tháng chinh chiến giúp vua dựng nước. Chữ "chè" vì thế mà thấm đẫm cái hồn quê kiểng, bình dị, nhưng cũng sâu lắng.

Trà hay Chè? Hành trình nghìn năm của một chiếc lá và hai cách gọi tên
"Trà" và "chè" cùng tồn tại trong tiếng Việt, phản ánh sự giao thoa giữa văn hóa bác học và dân gian.

Trong khi đó, "Trà" là từ Hán Việt, theo chân sách vở thánh hiền và văn chương bác học vào nước ta muộn hơn, khoảng thế kỷ VIII-IX, thời kỳ văn hóa Đường cực thịnh. Nó mang phong thái trang trọng của chốn cung đình, của những buổi thưởng hoa vịnh nguyệt, của giới nho sĩ văn nhân. Trong các bài thơ, văn bia, sắc phong, từ "trà" luôn xuất hiện với vẻ thanh cao, tao nhã.

Đến thế kỷ XVIII-XIX, sự phân biệt này càng rõ nét. Trong các văn bản triều đình, "trà" được dùng; còn ở chợ búa, làng xã, người ta vẫn gọi "chè". Hai từ cùng tồn tại, không ai thay thế ai, phản ánh đúng bản chất xã hội Việt Nam: vừa tiếp nhận văn hóa Hán, vừa giữ gìn bản sắc dân gian riêng.

Dấu tích trong địa danh và tên người

Sự phân hóa này còn in dấu sâu đậm trong địa danh khắp đất nước. Chúng ta có làng Trà Hương ở Kinh Bắc (nay là Bắc Ninh) - quê hương của Tuyên phi Đặng Thị Huệ, người được chúa Trịnh Sâm sủng ái gọi là "Bà Chúa Chè". Bà là một trong những người phụ nữ xinh đẹp và tài hoa nhất triều Trịnh, và câu chuyện về bà đã trở thành cảm hứng cho nhà văn Nguyễn Triệu Luật viết tiểu thuyết nổi tiếng cùng tên vào đầu thế kỷ XX.

Chúng ta có phố Hàng Chè ở Hà Nội xưa (nay là đoạn phố Hồ Hoàn Kiếm ngắn ngủi chỉ 52 mét), nơi từng nức tiếng với những hiệu chè mộc, bán chè tươi và trà khô từ sáng đến chiều. Văn hào Hoàng Đạo Thúy (1900-1994) từng kể lại: đó là con phố nhỏ, nhưng ai đi qua cũng ngửi thấy hương thơm thoảng. Giờ đây phố ấy không còn một cửa hàng chè nào, nhưng cái tên vẫn còn đó - như lời nhắc nhở về quá khứ.

Hay như đầu thế kỷ XX, tờ báo kinh tế đầu tiên ở Sài Gòn lấy tên là Nông Cổ Mín Đàm (農估茗談) - nghĩa là "uống trà bàn chuyện nông thương". Trong đó, chữ "Mín" (茗) lại là một từ nhã khác để chỉ trà, vay mượn từ phương ngữ vùng Ngô (Giang Chiết, Hoa Nam). Chính trí thức yêu nước Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) cũng lấy hiệu là Minh Viên (茗園 - vườn chè), thể hiện niềm yêu thích đặc biệt với trà và văn hóa Á Đông.

Hơn cả âm thanh và chữ viết

Ngôn ngữ không đứng yên. Nó là dòng chảy sống động, phản chiếu lịch sử, địa lý và tâm thức của cả một dân tộc. Từ "khổ đồ" đắng chát thuở sơ khai ở Tứ Xuyên, qua chữ "Trà" (茶) được Lục Vũ định danh, đến hai từ "trà" và "chè" cùng tồn tại trong tiếng Việt - mỗi tên gọi đều mang trong mình một câu chuyện văn hóa riêng.

Trà hay Chè? Hành trình nghìn năm của một chiếc lá và hai cách gọi tên
Chén trà nhỏ kết nối những cuộc gặp gỡ và gìn giữ truyền thống hiếu khách.

Trở lại với Lư trà quán chiều nay, khi nâng chén trà sen thơm ngát trên tay, tôi chợt hiểu rằng dù gọi là gì đi nữa - Trà hay Chè, thanh tao hay dân dã - thì cái cốt lõi vẫn là sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên, là chút tĩnh tại lắng đọng giữa dòng đời hối hả. Và đó, mới thực sự là "đạo" của trà - không phải ở tên gọi, mà ở cách ta sống với nó.

Tiệp Nguyễn

Tin liên quan

Tin mới hơn

Hương cốm non OCOP đánh thức giá trị hạt nếp Khẩu Tan Đón
Hương cốm non OCOP đánh thức giá trị hạt nếp Khẩu Tan Đón
ocopvietnam - Từ giống nếp bản địa trước đây chỉ trồng để ăn, anh Đinh Xuân Công cùng 250 hộ dân xã Dương Quỳ (Lào Cai) đã liên kết xây dựng vùng nguyên liệu 60 ha. Hạt nếp Khẩu Tan Đón được chế biến thành cốm non, bánh chưng cốm đạt OCOP 3 sao, mở ra hướng làm giàu cho nông dân vùng cao. Hay nói cách khác, hương cốm non OCOP đã đánh thức giá trị hạt nếp Khẩu Tan Đón
Hàu Thái Bình Dương đầm Nha Phu đạt OCOP 3 sao
Hàu Thái Bình Dương đầm Nha Phu đạt OCOP 3 sao
ocopvietnam - Từ bỏ công việc ở thành phố về với nghề biển của gia đình, anh Võ Thanh Tài (xã Nam Ninh Hòa, Khánh Hòa) đã xây dựng vùng nuôi hàu Thái Bình Dương quy mô 40-50 bè tre, mỗi năm cung ứng khoảng 90 tấn hàu thương phẩm. Sản phẩm hàu của anh đã đạt chứng nhận OCOP 3 sao.
Rau má Quảng Điền làm nên thương hiệu nông sản xứ Huế
Rau má Quảng Điền làm nên thương hiệu nông sản xứ Huế
ocopvietnam - Từ những thửa ruộng lúa kém hiệu quả, người dân xã Quảng Điền (TP Huế) chuyển sang trồng rau má theo quy trình VietGAP, hình thành vùng chuyên canh lớn nhất thành phố. Cây rau má không chỉ mang lại thu nhập ổn định, tạo việc làm cho hàng trăm lao động mà còn được chế biến thành sản phẩm OCOP, mở ra hướng phát triển du lịch trải nghiệm nông nghiệp.
Vườn trái viết độc lạ bên chùa Xiêm Cán
Vườn trái viết độc lạ bên chùa Xiêm Cán
ocopvietnam - Từ lần được vị sư chùa Xiêm Cán cho vài trái viết ăn thử trong dịp lễ Sene Dolta năm 1978, ông Trần Ngọc Chiến ấp ủ ước mơ trồng loại cây này. Gần 10 năm qua, ông đã gây dựng vườn viết hơn 200 cây ở phường Hiệp Thành (Cà Mau) và đang làm hồ sơ để sản phẩm “Trái Viết Xiêm Cán” được công nhận OCOP 3 sao.
Cô gái Khmer giữ nghề thốt nốt ở Tri Tôn
Cô gái Khmer giữ nghề thốt nốt ở Tri Tôn
ocopvietnam - Rời công việc ngân hàng ở TPHCM về quê năm 2017, chị Chau Ngọc Dịu, người dân tộc Khmer ở xã Tri Tôn (An Giang), thành lập Công ty CP Palmania để nâng giá trị mật hoa thốt nốt. Sau hơn 9 năm, doanh nghiệp đã có 3 sản phẩm đạt OCOP 5 sao, xuất khẩu sang nhiều nước và giúp người leo thốt nốt có thu nhập ổn định hơn.
Kỹ sư xây dựng làm mỹ phẩm OCOP từ xương rồng
Kỹ sư xây dựng làm mỹ phẩm OCOP từ xương rồng
ocopvietnam - Bỏ nghề xây dựng ở TPHCM về quê, anh Trần Văn Vũ (phường Hòa Hiệp) kiên trì phát triển sản phẩm từ cây xương rồng mọc trên vùng cát biển. Sau 8 năm, doanh nghiệp của anh đã có 8 sản phẩm mỹ phẩm đạt OCOP 3 sao và đang hướng tới xây dựng vùng nguyên liệu liên kết với người dân.

Tin khác

Miến dong làng So: Từ nghề truyền thống đến OCOP 5 sao
Miến dong làng So: Từ nghề truyền thống đến OCOP 5 sao
ocopvietnam - Kết hợp bí quyết gia truyền với dây chuyền sản xuất khép kín, các cơ sở làm miến ở làng So (xã Hưng Đạo, Hà Nội) đang đưa sợi miến dong vào siêu thị trong nước và xuất khẩu sang Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc). Trong đó, miến dong Dương Kiên đã đạt chứng nhận OCOP 5 sao.
Người nông dân đánh thức "vàng lạnh" Pác Bó
ocopvietnam- Khước từ tư duy canh tác quảng canh truyền thống, người nông dân dân tộc Nùng tại xã Trường Hà (Cao Bằng) mạnh dạn vay vốn đầu tư mô hình nuôi cá tầm tuần hoàn nước và hệ thống nhà màng tự động hóa. Khát vọng làm giàu từ tài nguyên bản địa đưa ông trở thành "Nông dân Việt Nam xuất sắc 2025", kiến tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng vùng cao.
Người phụ nữ đưa sản phẩm truyền thống “bắt trend” cùng Gen Z
Người phụ nữ đưa sản phẩm truyền thống “bắt trend” cùng Gen Z
LNV - Hơn 30 năm gắn bó với nghề làm cốm, bà Ngô Thị Thức không chỉ tìm cách gìn giữ hương vị truyền thống của cốm Mễ Trì mà còn từng bước đổi mới cách quảng bá sản phẩm qua nhiều phương thức.
Trồng xáo tam phân, nông dân Khánh Hòa có thêm hướng làm giàu từ cây dược liệu
Trồng xáo tam phân, nông dân Khánh Hòa có thêm hướng làm giàu từ cây dược liệu
ocopvietnam - Từ những cây xáo tam phân con thu mua của người dân khai thác trên núi Hòn Hèo, Công ty CP Sản xuất thương mại dịch vụ Pom Group đã nhân giống thành công, phát triển vùng trồng hàng trăm héc-ta cùng nông dân và làm ra nhiều sản phẩm đạt OCOP 4 sao.
Hảo Đạt: Giữ hồn chè Tân Cương bằng cách làm hiện đại
Hảo Đạt: Giữ hồn chè Tân Cương bằng cách làm hiện đại
ocopvietnam - Giữa vùng chè Tân Cương nổi tiếng, Hợp tác xã Chè Hảo Đạt đang từng bước nâng tầm giá trị cây chè bằng quy trình sản xuất hiện đại, phương thức canh tác an toàn, đồng thời giữ gìn hương vị truyền thống. Từ những đồi chè xanh mướt đến các sản phẩm đạt OCOP 5 sao, Hảo Đạt không chỉ tạo dựng thương hiệu chè đặc sản mà còn trở thành điểm đến trải nghiệm hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước.
Á hậu Khánh Linh, KOL Quỷ Cốc Tử: Kể câu chuyện thật để sản phẩm OCOP chạm tới người tiêu dùng
Á hậu Khánh Linh, KOL Quỷ Cốc Tử: Kể câu chuyện thật để sản phẩm OCOP chạm tới người tiêu dùng
ocopvietnam - Vì sao có những sản phẩm OCOP khiến du khách nhớ mãi, trong khi nhiều sản phẩm khác vẫn loay hoay tìm sức hút? Theo Á hậu Khánh Linh, KOL Quỷ Cốc Tử cùng nhiều chuyên gia, câu chuyện chân thực phía sau sản phẩm chính là yếu tố tạo nên sự khác biệt.
Hành trình 5 sao của miến dong Tài Hoan
Hành trình 5 sao của miến dong Tài Hoan
ocopvietnam - Từ món ăn chống đói của người dân vùng núi đá vôi Na Rì, miến dong Tài Hoan đã được công nhận sản phẩm OCOP 5 sao quốc gia và có mặt tại những thị trường khó tính như EU, Australia, Mỹ.
Tầm gửi cây gạo: Từ “lộc trời” đến sản phẩm OCOP
Tầm gửi cây gạo: Từ “lộc trời” đến sản phẩm OCOP
ocopvietnam - Những búi tầm gửi tự mọc trên cây gạo, được người dân xã Hiền Quan gọi là “lộc trời”, nay đã thành trà thảo mộc đạt chuẩn OCOP 3 sao. Từ nguồn nguyên liệu tự nhiên ấy, địa phương đang xây dựng thương hiệu, hướng đến nâng hạng sản phẩm và tạo sinh kế bền vững cho người dân.
Từ lượt xem đến đơn hàng: bài toán của OCOP
Từ lượt xem đến đơn hàng: bài toán của OCOP
ocopvietnam - Chuyên gia tại hội thảo ở TP.HCM cho rằng sản phẩm OCOP muốn bán được trên mạng cần kể được câu chuyện và tạo được niềm tin, không chỉ chạy theo lượt xem.
Nữ giám đốc HTX ở Quảng Trị đưa thủy hải sản lên chuẩn OCOP
Nữ giám đốc HTX ở Quảng Trị đưa thủy hải sản lên chuẩn OCOP
ocopvietnam - Từ một hợp tác xã nhỏ ở vùng biển, bà Nguyễn Thị Đoàn (xã Ninh Châu, tỉnh Quảng Trị) đầu tư công nghệ, xây dựng thương hiệu để nhiều sản phẩm của HTX Vương Đoàn đạt OCOP 3 sao, 4 sao, mở rộng thị trường và tạo việc làm cho lao động địa phương.
Tạo thói quen chăm sóc sức khỏe chủ động nhờ sản phẩm thảo mộc
Tạo thói quen chăm sóc sức khỏe chủ động nhờ sản phẩm thảo mộc
OVN - Từ thói quen ngâm chân bằng nước ấm thảo mộc quen thuộc trong đời sống người Việt, chị Trần Thị Tú Quyên, nhà sáng lập thương hiệu ANHERBAL (Công ty Cổ phần ANHERBAL) chọn phát triển những sản phẩm chăm sóc đôi chân theo hướng tiện lợi, phù hợp nhịp sống hiện đại. Nữ doanh nhân chủ động tiếp cận giá trị truyền thống bằng tư duy mới, từng bước đưa ý tưởng kinh doanh vào thực tế, hướng đến phát triển bền vững.
Nữ nghệ nhân Hà Nội đưa làng nghề lên không gian số
Nữ nghệ nhân Hà Nội đưa làng nghề lên không gian số
ocopvietnam - Từ gốm Bát Tràng đến nón lá Chuông, các nữ nghệ nhân kiến nghị đẩy mạnh quảng bá trên nền tảng số và phát triển du lịch trải nghiệm.
Từ trang trại lên bàn ăn thế giới: Gia Lai thử mô hình mới
Từ trang trại lên bàn ăn thế giới: Gia Lai thử mô hình mới
ocopvietnam- Chiều 16.10, UBND tỉnh Gia Lai phối hợp với Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Việt Nam (VCCA) tổ chức Hội thảo “Nông sản Việt: Từ trang trại lên bàn ăn thế giới”.
Đặc sản và văn hóa ẩm thực Tây Ninh
Đặc sản và văn hóa ẩm thực Tây Ninh
ocopvietnam - Từ bánh tráng phơi sương, muối tôm đến mãng cầu, gạo thơm, Tây Ninh đang biến sản vật bản địa thành sản phẩm OCOP gắn với hành trình ẩm thực của du khách.
Macca, cà phê Đăk Mar hướng tới OCOP
Macca, cà phê Đăk Mar hướng tới OCOP
ocopvietnam - Từ vùng núi phía tây Quảng Ngãi, Hợp tác xã Macca Thành Công và Công ty TNHH Fuji Farm đưa hạt mắc ca, cà phê Robusta từ nguyên liệu thô thành sản phẩm có thương hiệu và đã hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận OCOP, góp phần quảng bá nông sản Quảng Ngãi ra thị trường trong nước và quốc tế.
Tin mới Đọc nhiều
Giao diện di động