Tiếng chiêng đánh thức hồn Mường

Những ngày xuân ở miền núi phía Tây của Phú Thọ, trong những ngôi nhà sàn nép mình bên triền đồi, không khí ấm cúng, vui tươi hơn hẳn. Con đường nhỏ uốn lượn qua nương lúa, nương ngô dẫn vào bản làng người Mường như lối quay về với ký ức xa xăm của núi rừng. Dưới tiết trời đầu xuân, tiếng chiêng Mường vang lên trầm hùng, lan qua thung lũng, dội vào vách đá rồi ngân dài như lời gọi từ quá khứ. Âm thanh ấy không chỉ đánh thức một buổi sáng miền sơn cước mà còn đánh thức cả những tầng sâu của ký ức văn hóa xứ Mường.

Âm vang từ ngàn xưa

Với người Mường, chiêng không đơn thuần là một nhạc cụ. Nó là linh hồn của bản làng, là âm thanh gắn bó với đời sống cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Tiếng chiêng vang lên trong ngày hội, trong lễ cưới, trong dịp dựng nhà mới và cả trong những nghi lễ tiễn biệt một đời người. Nhịp chiêng vì thế không chỉ là âm nhạc mà còn là sợi dây vô hình nối con người với đất trời, với tổ tiên và với cội nguồn văn hóa của mình.

Tiếng chiêng đánh thức hồn Mường

Các nhà nghiên cứu văn hoá cho rằng, chiêng của người Mường bắt nguồn từ nền văn minh Đông Sơn rực rỡ cách đây ít nhất 3.500 - 4.000 năm. Trên những chiếc Trống đồng Đông Sơn cổ, hình ảnh con người đánh chiêng đã xuất hiện như một minh chứng cho đời sống âm nhạc và tín ngưỡng của cư dân thời tiền sử.

Trải qua bao biến thiên của lịch sử, từ khi người Việt và người Mường còn chung một cội nguồn. Tiếng chiêng vẫn tồn tại, như nhịp đập của núi rừng.

Báu vật giữ hồn bản Mường

Chiêng Mường được chế tác từ đồng bằng những kỹ thuật thủ công đòi hỏi sự khéo léo và kinh nghiệm của người thợ. Có chiếc được đúc khuôn, có chiếc được gò tay, mỗi công đoạn đều cần sự tỉ mỉ và cảm nhận tinh tế về âm thanh.

Những hoa văn giản dị trên mặt chiêng không chỉ để trang trí mà còn mang theo những câu chuyện về vũ trụ, con người và thiên nhiên theo quan niệm của người Mường. Bởi vậy, chiếc chiêng không còn là kim loại vô tri mà trở thành kết tinh của lao động, của tâm linh và của trí tuệ dân gian.

Ở nhiều bản làng người Mường, chiêng thường được treo trang trọng ngay gian giữa nhà sàn, nơi linh thiêng nhất của ngôi nhà, nơi đặt bàn thờ tổ tiên. Sự hiện diện của chiêng ở đó như một lời khẳng định rằng nó không chỉ là nhạc cụ mà còn là một phần của đời sống tinh thần của mỗi gia đình.

Chiêng Mường không phải lúc nào cũng được đánh, mà chỉ vang lên trong những dịp quan trọng của bản làng.

Là người gắn bó nhiều năm với chiêng Mường, Nghệ nhân ưu tú Bùi Văn Lựng (xóm Mường Lầm, xã Mường Bi, tỉnh Phú Thọ) cho biết: “Mỗi chiếc chiêng đều có “hồn” riêng. Trước khi đánh chiêng trong những dịp trọng đại, người Mường thường làm nghi thức ‘dậy chiêng’, lau núm chiêng bằng rượu như đánh thức linh hồn của nó sau giấc ngủ dài. Mỗi khi tiếng chiêng cất lên là cả bản đều biết đang có việc lớn. Chiêng giống như tiếng nói chung của cộng đồng vậy”.

Trong dàn chiêng của người Mường, âm thanh không vang lên một cách đơn lẻ mà được sắp đặt thành từng tầng bậc như một bản hòa tấu của núi rừng.

Mười hai chiếc chiêng được chia thành ba lớp âm vực, hòa quyện vào nhau tạo nên những lớp sóng âm thanh khi trầm hung. Khi thì rộn ràng, khi lại ngân lên thanh thoát như gió lướt qua đỉnh núi.

Bốn chiếc chiêng Khầm có thân lớn nhất, tiếng trầm sâu và dày, giữ vai trò như nhịp tim của cả dàn chiêng. Mỗi nhịp gõ vang lên chậm rãi mà vững chãi, như bước chân của núi rừng, nâng đỡ và dẫn dắt toàn bộ giai điệu phía trên.

Trên nền âm thanh của chiêng trầm, bốn chiếc chiêng Bồng cất tiếng. Âm thanh của chúng vừa phải, không quá sâu cũng chẳng quá cao, nhưng lại giữ vai trò dẫn dắt, tạo nên mạch chảy chính của bản chiêng.

Xen vào giữa những lớp âm thanh ấy là bốn chiếc chiêng Chót, tiếng cao và sáng, ngân lên lanh lảnh như tiếng suối đầu nguồn. Những nhịp chiêng ấy không nhiều nhưng mỗi lần vang lên đều như nét chấm phá tinh tế, làm cho cả bản hòa tấu trở nên sinh động và đầy sắc màu.

Tiếng chiêng đánh thức hồn Mường
Màn biểu diễn chiêng tại Lễ hội khai hạ dân tộc Mường năm 2026.

Âm thanh còn mãi với thời gian

Với người Mường, chiêng không chỉ là nhạc cụ mà còn là vật linh thiêng. Trong quan niệm “vạn vật hữu linh”, mỗi chiếc chiêng đều có hồn, có vía riêng. Bởi vậy, trước mỗi dịp lễ lớn hay mỗi cuộc hòa chiêng của bản làng, các nghệ nhân đều làm nghi thức “dậy chiêng”. Họ cẩn thận dùng rượu lau lên núm chiêng, như đánh thức linh hồn của báu vật sau giấc ngủ dài, để khi tiếng chiêng cất lên, âm thanh ấy không chỉ vang giữa núi rừng mà còn vọng tới cõi tâm linh của tổ tiên.

Tiếng chiêng đánh thức hồn Mường
Tiếng chiêng là thứ âm thanh không thể vắng mặt trong đời sống sinh hoạt cũng như các dịp lễ hội quan trọng của người Mường.

Năm 2016 trở thành một dấu mốc đáng nhớ với văn hóa Mường khi nghệ thuật Chiêng Mường ở tỉnh Hòa Bình cũ (nay thuộc tỉnh Phú Thọ) chính thức được ghi danh vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đó không chỉ là một tấm bằng vinh danh, mà còn là lời khẳng định cho sức sống trường tồn của một di sản đã ngân vang qua bao thế hệ người Mường.

Cũng trong năm ấy, một sự kiện khiến nhiều người còn nhắc lại đến tận hôm nay: 1.600 nghệ nhân chiêng từ khắp các bản làng cùng hội tụ, tạo nên màn trình tấu chiêng lớn nhất từ trước tới nay, xác lập kỷ lục Guinness Việt Nam.

Giữa không gian núi rừng mênh mang, hàng nghìn nhịp chiêng cùng vang lên dồn dập, trầm hùng, như thể cả đại ngàn cũng rung lên theo từng nhịp. Không ít người khi ấy đã nói rằng: “Đó không chỉ là một màn biểu diễn, mà là khoảnh khắc hồn Mường được đánh thức mạnh mẽ giữa thời hiện đại”.

Sự kiện ấy giống như một “tiếng chiêng lớn” vang lên trong đời sống văn hóa, đánh thức ý thức cộng đồng về việc gìn giữ di sản. Từ đó, công cuộc bảo tồn chiêng Mường không còn là câu chuyện của riêng những nghệ nhân trong bản, mà trở thành mối quan tâm chung của cả cộng đồng.

Tiếng chiêng đánh thức hồn Mường
Chiêng là nhạc cụ gắn bó mật thiết với người Mường.

Thống kê trong những năm gần đây cho thấy sức sống đáng tự hào của di sản này.

Tính đến năm 2024, khắp vùng Mường vẫn còn lưu giữ gần 15.000 chiếc chiêng cổ. Hơn 10.000 người biết đánh chiêng và 224 câu lạc bộ chiêng Mường đang hoạt động sôi nổi. Những con số ấy như những “pháo đài văn hóa” âm thầm đứng vững giữa làn sóng đô thị hóa và nhịp sống hiện đại đang lan tới từng bản làng.

Tiếng chiêng đánh thức hồn Mường
Tỉnh Phú Thọ đang lưu giữ gần 15.000 chiếc chiêng cổ và có trên 10.000 người biết đánh chiêng.

Song song với nỗ lực của cộng đồng, chính quyền địa phương tại Phú Thọ cũng đã có nhiều chính sách thiết thực để giữ gìn di sản.

Từ việc hỗ trợ kinh phí cho các đội văn nghệ xóm, đưa nghệ thuật diễn tấu chiêng vào chương trình ngoại khóa của học sinh, cho tới việc tổ chức các lớp truyền dạy cho thanh thiếu niên… tất cả đều hướng đến mục tiêu để tiếng chiêng không bị lãng quên trong dòng chảy của thời gian.

Nhờ những nỗ lực ấy, thế hệ trẻ hôm nay không chỉ nghe tiếng chiêng trong lễ hội mà còn được trực tiếp cầm dùi, gõ lên những nhịp chiêng của cha ông. Ở nhiều bản làng, những “cây đại thụ” của văn hóa Mường như Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Hình, Bùi Văn Lựng, Bùi Thanh Bình hay Đinh Thị Kiều Dung… vẫn ngày ngày kiên nhẫn truyền dạy từng nhịp chiêng cổ. Họ không chỉ dạy cách đánh chiêng, mà còn truyền cho lớp trẻ niềm tự hào và tình yêu với di sản của dân tộc mình. Bởi họ tin rằng, chừng nào tiếng chiêng còn vang lên trong lễ hội và đời sống bản làng thì chừng ấy hồn Mường vẫn còn được gìn giữ.

Mỗi mùa xuân, khi lễ khai hội nhộn nhịp giữa núi rừng, tiếng chiêng lại ngân lên. Người già, người trẻ, trai gái cùng hòa vào vòng múa, để âm thanh trầm hùng ấy lan xa theo gió. Trong khoảnh khắc ấy, quá khứ và hiện tại dường như hòa làm một. Và, tiếng chiêng vẫn ngân vang giữa đại ngàn, mang theo hơi thở của núi rừng, của con người và của hồn xứ Mường qua bao thế hệ.

Hằng Thu

Tin liên quan

Tin mới hơn

Tiếng chiêng đánh thức hồn Mường
Tiếng chiêng đánh thức hồn Mường
Những ngày xuân ở miền núi phía Tây của Phú Thọ, trong những ngôi nhà sàn nép mình bên triền đồi, không khí ấm cúng, vui tươi hơn hẳn. Con đường nhỏ uốn lượn qua nương lúa, nương ngô dẫn vào bản làng người Mường như lối quay về với ký ức xa xăm của núi rừng. Dưới tiết trời đầu xuân, tiếng chiêng Mường vang lên trầm hùng, lan qua thung lũng, dội vào vách đá rồi ngân dài như lời gọi từ quá khứ. Âm thanh ấy không chỉ đánh thức một buổi sáng miền sơn cước mà còn đánh thức cả những tầng sâu của ký ức văn hóa xứ Mường.
7 sản phẩm OCOP từ một HTX: Công nghệ sấy dẻo của Quyết Thanh Mộc Châu
7 sản phẩm OCOP từ một HTX: Công nghệ sấy dẻo của Quyết Thanh Mộc Châu
Những ngày hè oi bức, khi du khách từ miền xuôi đổ về Mộc Châu thưởng ngoạn cao nguyên xanh mát và tìm kiếm những món snack tự nhiên, xưởng chế biến hoa quả sấy của HTX Nông nghiệp Quyết Thanh ở phường Thảo Nguyên, Mộc Châu tất bật từ sáng đến tối. Bước vào khu nhà xưởng tại tiểu khu Khí tượng, dễ nhận ra nhịp sản xuất khẩn trương nhưng gọn gàng, đâu ra đấy. Hơn chục công nhân có mặt từ sáng sớm, mỗi người một việc: từ lựa quả, đóng hộp, dán nhãn đến kiểm tra lần cuối trước khi xuất kho. Những khay mận đỏ sẫm, khay xoài vàng óng được xếp ngay ngắn, ánh lên sắc màu tự nhiên - thứ màu chỉ có thể có khi quả chín đúng độ và được sấy bằng công nghệ phù hợp. Không hương liệu, không chất bảo quản, vị ngọt ở đây đến từ chính nắng gió Mộc Châu và dây chuyền sấy hiện đại của một HTX đã tạo ra 7 sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 3-4 sao.

Tin khác

Xôi Phú Thượng: Hành trình một di sản sống giữa lòng Hà Nội
Xôi Phú Thượng: Hành trình một di sản sống giữa lòng Hà Nội
Trên những con phố Hà Nội từ tờ mờ sáng, hình ảnh thúng xôi bốc khói thơm ngậy đã trở thành một phần không thể tách rời của ký ức người dân thủ đô. Đằng sau gánh xôi giản dị ấy là cả một làng nghề trăm năm tuổi đang chuyển mình mạnh mẽ. Năm 2025, bốn sản phẩm xôi đặc trưng của phường Phú Thượng chính thức đạt chứng nhận OCOP 3 sao. Đây là cột mốc quan trọng khẳng định vị thế của một di sản ẩm thực đang sống và phát triển ngay giữa lòng Thủ đô.
Nếp nương gói ước mơ: Gen Z người Thái dệt sinh kế từ món bánh dân tộc
Nếp nương gói ước mơ: Gen Z người Thái dệt sinh kế từ món bánh dân tộc
Không chọn con đường quen thuộc của nhiều phụ nữvùng cao, Lò Chúc Chi - cô gái người dân tộc Thái ở phường Mường Lay (Điện Biên) đã bắt đầu hành trìnhkhởi nghiệp từ chính những chiếc bánh truyền thốngcủa dân tộc mình. Từ gian bếp nhỏ của bản Thái, khẩu xén, chí chọp từng bước trở thành sản phẩm OCOP, mở ra sinh kế mới cho phụ nữ địa phương và giữ lại mộtphần hồn cốt văn hóa Tây Bắc.
Cây quế tạo sinh kế cho nông dân Nghĩa Đô
Cây quế tạo sinh kế cho nông dân Nghĩa Đô
Đầu hè, không khí tại những vùng quế Lào Cai vẫn không giảm đi sự nhộn nhịp. Từ sáng sớm, người dân đã tất bật vào rừng bóc vỏ, vận chuyển quế xuống núi để kịp các chuyến thu mua. Với nhiều gia đình, đây không chỉ là mùa lao động nhộn nhịp mà còn là thời điểm hái ra tiền từ loại cây được ví như “vàng xanh” của miền sơn cước.
Mai Hạ gọi nắng, bếp gọi men rừng
Mai Hạ gọi nắng, bếp gọi men rừng
Giữa cái nắng đầu hè, xã Mai Hạ (tỉnh Phú Thọ) hiện ra không phải bằng sự choáng ngợp, mà bằng một thứ quyến rũ rất chậm. Đồi núi xanh rì, những nếp nhà sàn nép mình bên sườn núi, và đâu đó trong không khí, một mùi hương dìu dịu vừa ấm, vừa sâu, như gọi người ta dừng lại lâu hơn. Đó là hương của rượu Láu Siêu, thứ “men rừng” đã theo chân người Thái ở xóm Chiềng Hạ đi qua bao mùa nương rẫy, bao biến thiên của thời gian.
Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi
Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi
Những cây chè Shan tuyết cổ thụ ở Tà Xùa không phải mới xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây. Chúng đã đứng đó hàng trăm năm, bám rễ vào sườn núi đá, lặng lẽ hút sương mù và gió lạnh của vùng cao Tây Bắc. Nhiều thế hệ người Mông vẫn quen gọi chúng bằng một cái tên giản dị: “chè rừng”. Nhưng trong mắt những người làm trà, đó là một kho báu thiên nhiên hiếm có - thứ “vàng xanh” của núi cao. Từ tiềm năng của vùng chè di sản ấy, những năm gần đây, việc chế biến và xây dựng thương hiệu đã bắt đầu mở ra con đường mới cho loại trà đặc biệt này. Khi doanh nghiệp vào cuộc, những búp chè Shan tuyết không còn chỉ là nguyên liệu thô bán cho thương lái, mà dần trở thành sản phẩm mang giá trị cao mang theo hương vị và câu chuyện của núi rừng Tà Xùa.
Cao nguyên chín muộn: Mùa mận Mộc Châu dài thêm một nhịp
Cao nguyên chín muộn: Mùa mận Mộc Châu dài thêm một nhịp
Có những vườn vừa lấp lánh quả, vừa thấp thoáng hoa, như thể mùa mận đang được “chia ca” thay vì ùa về trong chốc lát. Bằng tay nghề và kỹ thuật, người nông dân kéo dài vị ngọt để cả cao nguyên có thêm mùa đón khách. Trên cao nguyên Mộc Châu, cây mận hậu từ lâu không chỉ là loài cây đặc trưng của vùng đất sương mờ mà còn là nguồn sinh kế quan trọng của hàng nghìn hộ dân. Với gần 3.500 ha mận hậu, đây là một trong những cây trồng chủ lực mang lại thu nhập ổn định cho người dân địa phương. Nhưng thay vì chỉ trông chờ vào vụ thu hoạch truyền thống diễn ra trong tháng 5 và tháng 6, nhiều nông dân Mộc Châu đang chủ động “điều khiển mùa vụ”, đưa mận chín sớm và kéo dài thời gian thu hoạch đến tận tháng 8. Nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào canh tác, những vườn mận trái vụ hôm nay không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao mà còn mở ra thêm sức hút mới cho du lịch trải nghiệm trên cao nguyên xanh.
Dệt ký ức, thêu tương lai: Người Lào ở Điện Biên giữ nghề, dựng sinh kế
Dệt ký ức, thêu tương lai: Người Lào ở Điện Biên giữ nghề, dựng sinh kế
Giữa nhịp sống hiện đại, khi thị trường may mặc công nghiệp ngày càng phát triển với vô vàn mẫu mã, sắc màu và chất liệu, ở nhiều bản làng của tỉnh Điện Biên, phụ nữ dân tộc Lào vẫn đều đặn ngồi bên khung cửi mỗi ngày. Tiếng thoi đưa vang lên trong những ngôi nhà sàn không chỉ là âm thanh của lao động, mà còn là nhịp giữ gìn bản sắc văn hóa đã được truyền qua nhiều thế hệ.
Tạo sinh kế cho phụ nữ bản từ... xơ mướp
Tạo sinh kế cho phụ nữ bản từ... xơ mướp
Ở vùng núi Cao Sơn, khi mùa mướp đi qua, trên những hàng rào gỗ và mái hiên nhà sàn thường còn sót lại vài quả mướp già khô quắt. Bao năm nay, người dân chỉ giữ lại để làm giống, hoặc tước xơ đem rửa bát. Chẳng ai nghĩ thứ nguyên liệu thô ráp như xơ mướp ấy có ngày trở thành tranh nghệ thuật, túi xách hay quà lưu niệm cho du khách.
Giữ vị ngọt sông Đà trong từng sợi ruốc cá OCOP
Giữ vị ngọt sông Đà trong từng sợi ruốc cá OCOP
Vào hè, trên lòng hồ Hòa Bình, phường Hoà Bình mặt nước xanh màu ngọc bích. Những chiếc thuyền nhỏ lặng lẽ rẽ sóng giữa các dãy lồng cá nối nhau ven núi. Người dân vùng hồ vẫn quen gọi nơi đây là “biển trên núi”, bởi đây là nơi con sông Đà sau khi bị ngăn dòng đã để lại một vùng nước mênh mang, nuôi lớn bao phận người bằng nghề nuôi cá lồng. Từ những con cá nuôi giữa lòng hồ, giờ đây đã có những sản phẩm OCOP mang theo cả hương vị sông nước Tây Bắc đi xa. Trong đó, ruốc cá sông Đà của Công ty TNHH Hải Đăng Group, phường Hòa Bình (Phú Thọ), không chỉ là một món ăn, mà giống như thứ quà mang theo ký ức vùng hồ dành cho du khách sau mỗi chuyến đi.
Tiếng thoi đưa trở lại: Giữ hồn thổ cẩm Mường ở vùng cao Phú Thọ
Tiếng thoi đưa trở lại: Giữ hồn thổ cẩm Mường ở vùng cao Phú Thọ
Từng có lúc tiếng thoi đưa ở xóm Cóm, xã Tân Lạc dần thưa vắng. Nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Mường nơi đây đứng trước nguy cơ mai một. Từ mô hình hợp tác xã gắn với phát triển sản phẩm OCOP, những hoa văn cổ của đồng bào Mường nay đang được gìn giữ, tạo việc làm và mở ra hướng sinh kế bền vững cho người dân địa phương.
Mùi hương núi rừng và giấc mơ OCOP của người làm dược liệu Mường La
Mùi hương núi rừng và giấc mơ OCOP của người làm dược liệu Mường La
Từ những cây thuốc mọc dưới tán rừng, người dân xã Mường La (Sơn La) đang từng bước tạo ra các sản phẩm chế biến như dầu gội thảo dược, trà táo mèo, xà phòng thiên nhiên… để nâng giá trị dược liệu bản địa. Không còn phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái và thị trường nguyên liệu thô, nhiều HTX vùng cao đã bắt đầu hành trình đưa dược liệu Tây Bắc tiếp cận các hội chợ lớn, kênh bán hàng số và hướng tới xây dựng sản phẩm OCOP.
Dưới chân núi đá Mai Hạ (Phú Thọ), "cá tiến vua" nuôi sống một bản làng
Dưới chân núi đá Mai Hạ (Phú Thọ), "cá tiến vua" nuôi sống một bản làng
Ở những dãy núi đá quanh xã Mai Hạ (Phú Thọ), mùa khô kéo dài khiến ruộng đồng nứt nẻ, người dân từng quen với cảnh “trông trời trông đất” để gieo cấy vài vụ lúa đủ ăn. Nhưng cũng chính từ những khe nước lạnh âm thầm chảy ra từ lòng núi ấy, một hướng sinh kế khác đã hình thành, lặng lẽ suốt hơn ba thập kỷ, đó là nuôi cá dầm xanh - loài cá từng được xem là sản vật quý hiếm dành cho vua chúa.
Đà Nẵng: Giữ vị mặn quê nhà từ những chum mắm truyền đời
Đà Nẵng: Giữ vị mặn quê nhà từ những chum mắm truyền đời
Giữa nhịp sống hiện đại với đủ loại gia vị công nghiệp phủ kín các kệ hàng, ở một góc nhỏ nơi miền biển miền Trung, vẫn có những người lặng lẽ giữ nghề bằng đôi tay và ký ức. Với chị Trần Thị Ánh Hồng và chị Ngô Thị Kim Xuyến, phường An Khê (TP Đà Nẵng) nước mắm không đơn thuần là một sản phẩm để bán, mà còn là phần hồn của làng biển, là mùi vị tuổi thơ gắn với những mùa cá cơm bạc trắng bến Tam Thanh, Tam Tiến.
Gen Z đưa đặc sản mắm truyền thống Giồng Riềng đạt chuẩn OCOP
Gen Z đưa đặc sản mắm truyền thống Giồng Riềng đạt chuẩn OCOP
OVN - Trong khi nhiều bạn trẻ chọn lập nghiệp nơi phố thị xa hoa, anh Nguyễn Hoàng Anh (SN 1998, ngụ xã Ngọc Chúc, tỉnh An Giang) lại chọn quay về quê hương gắn bó cùng xưởng mắm gia đình. Từ một mặt hàng truyền thống phổ biến ở “chợ trời”, chàng trai trẻ Gen Z đã viết tiếp câu chuyện cho sản phẩm bằng tư duy hiện đại, góp phần đưa thương hiệu “Mắm cá Hoàng Anh” thành sản phẩm đạt chứng nhận OCOP.
Đặc sản xứ Thanh nâng tầm giá trị nông sản địa phương
Đặc sản xứ Thanh nâng tầm giá trị nông sản địa phương
LNV - Từ những món ăn dân dã gắn bó với đời sống thường nhật, nhiều đặc sản của Thanh Hóa như mắm tép, tương làng Ái, măng rừng… đang từng bước được chuẩn hóa, nâng cấp thành sản phẩm OCOP. Hành trình này không chỉ góp phần gia tăng giá trị kinh tế mà còn mở ra cơ hội để ẩm thực truyền thống vươn xa trên thị trường, khẳng định bản sắc địa phương trong bối cảnh hội nhập.
Tin mới Đọc nhiều
Giao diện di động