Thanh Hóa: Hấp dẫn tour du lịch cộng đồng bản Mạ
10:48 | 06/07/2022
OVN - Nằm bên dòng sông Chu hiền hòa, khu du lịch cộng đồng bản Mạ đẹp như một bức tranh thủy mặc với núi đồi bao bọc, nước sông trong xanh. Với những căn nhà sàn bình dị và nếp sinh hoạt văn hóa hồn hậu của đồng bào Thái, bản Mạ là điểm đến hấp dẫn khách du
Khu du lịch cộng đồng bản Mạ - điểm đến hấp dẫn
Nằm hiền hòa bên sông Chu, bước qua cây cầu treo bản Mạ, điểm du lịch cộng đồng bản Mạ hiện ra xinh xắn. Những ngôi nhà sàn của người Thái ẩn nấp trong núi và những thửa ruộng bậc thang dễ khiến du khách tìm được cảm giác bình yên, dễ chịu. Tại đây, người dân vẫn chủ yếu sinh sống tự cung, tự cấp, trồng lúa, ngô, chăn nuôi để phục vụ cuộc sống sinh hoạt hằng ngày.
Cây cầu treo bắc qua dòng sông Chu là con đường duy nhất vào bản Mạ
Là một bản người Thái đặc trưng, nên khi khám phá khu du lịch cộng đồng bản Mạ, du khách không chỉ được đắm say trong cảnh sắc thiên nhiên, mà còn được tìm hiểu, khám phá nhiều nét văn hóa truyền thống của đồng bào Thái nơi đây. Trong đó, ẩm thực ở bản Mạ là một trong những điểm nhấn đáng lưu ý, với nhiều món ăn đặc trưng của đồng bào dân tộc Thái, như: Xôi ngũ sắc, cá nướng, thịt nướng mắc khén, tôm sông, các loại rau rừng…

Những nếp nhà sản ẩn hiện trong thiên nhiên hữu tình
Ở bản Mạ, còn lưu giữ số lượng lớn nhà sàn truyền thống của đồng bào Thái. Sau những vất vả lao động ban ngày, đêm xuống, người dân lại tập trung bên bếp lửa tại những ngôi nhà truyền thống để hát cho nhau nghe, hay đánh cồng chiêng trong dịp lễ, Tết của bản làng.
Khu du lịch cộng đồng bản Mạ - Những trải nghiệm khó quên
Nhằm khai thác những tiềm năng thiên nhiên, văn hóa độc đáo hiện có, huyện Thường Xuân đã tập trung xây dựng, phát triển du lịch cộng đồng tại bản Mạ để thu hút khách du lịch. Trong Đề án phát triển du lịch cộng đồng tại huyện Thường Xuân đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030, bản Mạ được xác định là một trong những điểm đến du lịch cộng đồng nổi bật của huyện.
Các món ăn truyền thống tại bản Mạ
Theo đó, hạ tầng trong thôn được bê tông hóa sạch sẽ, giúp cho việc đi lại được thuận tiện; 100% các gia đình trong thôn đều có điện nước đầy đủ, hợp vệ sinh; sóng điện thoại, mạng internet cơ bản được phủ khắp... Một số hộ gia đình được chọn đầu tư thành nơi đón tiếp những khách đoàn đông.
Là một trong số những hộ gia đình đầu tiên trong bản Mạ làm du lịch cộng đồng, anh Lữ Văn Tính, chủ Homestay ẩm thực Tính Tuyến chia sẻ: “Việc phát triển du lịch cộng đồng đã khiến cho cuộc sống gia đình tôi thay đổi nhiều. Chúng tôi không chỉ lo trồng trọt, chăn nuôi mà đã học cách làm du lịch để phục vụ khách phương xa. Cả gia đình đều phải học cách ứng xử, giao tiếp với khách, nâng cấp dịch vụ, chế biến món ăn sao cho vừa giữ được hương vị bản địa, vừa phù hợp với khẩu vị của khách”.

Du khách sẽ được thưởng thức những điệu múa và bài hát Thái cổ
Chị Vi Thị Phương, thành viên của đội văn nghệ bản Mạ thường xuyên biểu diễn cho du khách, chia sẻ, hằng ngày, chị cùng phụ nữ trong bản vẫn lên nương đi cấy, nhưng đến tối họ lại tô điểm thật đẹp để biểu diễn văn nghệ phục vụ du khách. “Chúng tôi được dạy lại những điệu múa và bài hát Thái cổ để trình diễn cho du khách. Hồi đầu, ai cũng ngại và lúng túng, nhưng giờ đây chúng tôi đã rất tự tin và vui, vì đã góp phần giới thiệu văn hóa đặc sắc của người Thái với du khách”, chị Vi Thị Phương nói.
Đồng bào dân tộc Thái ở bản Mạ biểu diễn các điệu múa, bài hát cổ của người Thái để phục vụ du khách.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND huyện Thường Xuân Cầm Bá Đứng cho biết, điểm du lịch cộng đồng bản Mạ nằm ngay bên đường lớn, thuận tiện giao thông, cách thành phố Thanh Hóa chỉ hơn 60km. Hiện nay, bản Mạ là điểm dừng chân lý tưởng đối với du khách khi muốn tận hưởng khung cảnh miền núi yên bình và tĩnh lặng, được thưởng thức những món ăn truyền thống cùng những trải nghiệm không gian văn hóa đặc sắc của người Thái nơi đây.
Bài, ảnh TH: Minh Khuê
Tin mới hơn
OVN - Giữa miền Trung nắng gió, nơi đất đai khắc nghiệt nhưng con người lại giàu nghị lực và sự tinh tế, kẹo cu đơ ra đời như một minh chứng cho cách người Hà Tĩnh chắt chiu từng nguyên liệu giản dị để tạo nên một hương vị không thể trộn lẫn. Từ món quà quê mộc mạc, cu đơ ngày nay đang bước ra khỏi không gian làng xóm, trở thành sản phẩm OCOP mang đậm dấu ấn văn hóa và tiềm năng kinh tế rõ nét.
OVN - Từ những món ăn dân dã gắn bó với bữa cơm thường nhật của người dân, nhiều đặc sản của Thanh Hóa như mắm tép, tương làng Ái, măng rừng, bánh gai hay chè lam… đang từng bước bước ra khỏi không gian làng quê để trở thành những sản phẩm hàng hóa có giá trị cao.
Từ những nguyên liệu bình dị của núi rừng Tây Bắc, đồng bào Thái ở Điện Biên đã tạo nên những món ăn mang hương vị riêng không thể trộn lẫn. Qua thời gian, những đặc sản từng chỉ hiện diện trong mâm cơm gia đình nay được chuẩn hóa, xây dựng thương hiệu và khoác lên mình "tấm hộ chiếu" OCOP. Đó không chỉ là câu chuyện nâng tầm sản phẩm địa phương, mà còn là hành trình đưa bản sắc văn hóa dân tộc bước ra thị trường rộng lớn hơn.
Từ cây lanh trên nương đến những bộ trang phục rực rỡ sắc màu, nghề làm thổ cẩm của người Mông Đu ở xã Lao Chải đang được gìn giữ và phát huy theo hướng hàng hóa. Khi văn hóa trở thành tài nguyên phát triển, những sản phẩm thủ công truyền thống không chỉ giúp người dân tăng thu nhập mà còn mở ra cơ hội xây dựng sản phẩm OCOP gắn với du lịch cộng đồng và bản sắc vùng cao.
Gắn bó với đời sống đồng bào Mường ở phía Nam tỉnh Phú Thọ từ bao đời nay, cây măng không chỉ là sản vật của núi rừng mà còn là một phần trong văn hóa ẩm thực địa phương. Từ những cách chế biến truyền thống được lưu giữ qua nhiều thế hệ, thương hiệu măng Kim Bôi hôm nay đã được nâng tầm thành sản phẩm OCOP 5 sao Quốc gia, góp phần đưa đặc sản bản địa vươn xa trên thị trường trong và ngoài nước.
OVN - Lư trà quán ở phố Nguyễn Quý Đức (Hà Nội) - hay "quán trà ông già" như người địa phương vẫn gọi - đã hai mươi năm nay vẫn chỉ có tấm biển gỗ nhỏ xíu, phai màu đến mức tôi phải đi ngang ba lần mới nhận ra. Đó là cách của văn hóa trà: quán cũ, chỗ cũ, khách quen. Biết thì ghé, không cần quảng cáo.
Chiều đông, ngồi nhấm nháp ở góc quen, tôi nhìn ông chủ rót trà im lặng. "Trà sen Tây Hồ" - dòng chữ mờ nhạt trên mặt bàn gỗ. Rồi tôi nghĩ đến quán vỉa hè cuối ngõ, nơi mấy bác thợ xây uống "chè" sau giờ tan ca. Cùng là lá, cùng là nước. Nhưng một bên gọi "trà" - thanh tao, một bên gọi "chè" - dân dã. Tại sao vậy? Câu trả lời nằm ở tận vùng núi Tứ Xuyên, cách đây hơn hai nghìn năm.
Tin khác
OVN - Có những ngày Hà Nội bừng dậy trong làn sương mịn, tiếng xe rì rầm chưa kịp thành dòng. Tôi bước ra phố, nghe đâu đó tiếng nước sôi “thở” trong chiếc ấm nhôm đã mòn vành, mùi trà xanh tỏa dịu như một lời chào cũ. Trà đối với người Việt chưa bao giờ chỉ là một thức uống. Nó như cái bóng mát của cây cổ thụ giữa trưa, như chút hơi ấm nơi hiên nhà mùa đông, và như lời mời mộc mạc của một dân tộc trọng nghĩa tình.
Càng về sau càng nhận ra: cách người Việt uống trà chính là một trong những minh chứng rõ ràng nhất cho sự phóng khoáng, rộng mở mà vẫn thâm trầm của bản sắc văn hóa Việt. Trà ở Việt Nam cũng không buộc người ta phải ngồi ngay ngắn, không đòi hỏi một bộ trà cụ đúng chuẩn, cũng không ép ai phải tuân theo một quy tắc bất di bất dịch.
Tại đây, người ta không cần “rào đón” nhiều, ấm trà đã nói hộ chủ nhà. Đặt ấm xuống bàn, rót chén đầu tiên, câu chuyện tự khắc tìm được lối đi. Người Việt uống trà theo cách tự nhiên nhất như họ sống, như họ đối xử với nhau vừa hồn hậu, vừa linh hoạt...
OVN - Ở xã Gia Phú (huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai), có một con ngõ nhỏ mà chỉ cần đi ngang qua, người ta đã thấy… đói. Không phải mùi cao lương mỹ vị, mà là hương nếp nương dẻo thơm quyện cùng sắc lá rừng, mùi bánh chưng gù vừa nhấc khỏi nồi, mùi xôi ngũ sắc còn vương hơi ấm.
Từ những món ăn quen thuộc của đồng bào Tày, chị Vũ Thị Thủy Tiên đã từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất, ứng dụng công nghệ bảo quản hiện đại, đưa ẩm thực mộc mạc vùng cao trở thành sản phẩm OCOP 3 sao cấp tỉnh. Không chỉ tạo sinh kế ổn định cho gia đình và người dân địa phương, mô hình này còn góp phần lan tỏa giá trị ẩm thực truyền thống của vùng đất Lào Cai.
Từng là sản vật dâng tiến nhà vua, dòng bưởi Luận Văn nay được người dân xã Lam Sơn gìn giữ, phát triển thành đặc sản có tiếng của xứ Thanh, theo chân thương lái vươn ra thị trường trong nước và quốc tế. Năm 2021, bưởi Luận Văn chính thức được công nhận OCOP 4 sao, khẳng định vị thế của một sản phẩm đặc sản quý hiếm.
OVN - Ở xóm Sưng, xã Cao Sơn, những tấm thổ cẩm Dao Tiền không chỉ là bản sắc văn hóa mà còn là nguồn sinh kế ổn định cho 12 phụ nữ, trong đó có người khuyết tật và hoàn cảnh khó khăn. Từ nghề truyền thống từng đối mặt nguy cơ mai một, Tổ hợp tác (THT) thổ cẩm Dao Tiền đã "hồi sinh" nhờ gắn kết với du lịch cộng đồng, mang về doanh thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
OVN - Thịt chua vốn là món ăn dân dã của đồng bào dân tộc Mường, được làm từ những nguyên liệu quen thuộc và cách chế biến truyền thống. Ở Phú Thọ, bằng việc giữ vững hương vị bản địa và từng bước đầu tư sản xuất, thịt chua Suối Sỏi của Hợp tác xã (HTX) Thực phẩm Chiển Hướng, xã Cao Dương đã được công nhận OCOP 3 sao tháng 11/2024, mở ra hướng phát triển mới cho kinh tế địa phương.
OVN - Những ngày xuân ở miền núi phía Tây của Phú Thọ, trong những ngôi nhà sàn nép mình bên triền đồi, không khí ấm cúng, vui tươi hơn hẳn. Con đường nhỏ uốn lượn qua nương lúa, nương ngô dẫn vào bản làng người Mường như lối quay về với ký ức xa xăm của núi rừng. Dưới tiết trời đầu xuân, tiếng chiêng Mường vang lên trầm hùng, lan qua thung lũng, dội vào vách đá rồi ngân dài như lời gọi từ quá khứ. Âm thanh ấy không chỉ đánh thức một buổi sáng miền sơn cước mà còn đánh thức cả những tầng sâu của ký ức văn hóa xứ Mường.
OVN - Những ngày hè oi bức, khi du khách từ miền xuôi đổ về Mộc Châu thưởng ngoạn cao nguyên xanh mát và tìm kiếm những món snack tự nhiên, xưởng chế biến hoa quả sấy của HTX Nông nghiệp Quyết Thanh ở phường Thảo Nguyên, Mộc Châu tất bật từ sáng đến tối. Bước vào khu nhà xưởng tại tiểu khu Khí tượng, dễ nhận ra nhịp sản xuất khẩn trương nhưng gọn gàng, đâu ra đấy. Hơn chục công nhân có mặt từ sáng sớm, mỗi người một việc: từ lựa quả, đóng hộp, dán nhãn đến kiểm tra lần cuối trước khi xuất kho.
Những khay mận đỏ sẫm, khay xoài vàng óng được xếp ngay ngắn, ánh lên sắc màu tự nhiên - thứ màu chỉ có thể có khi quả chín đúng độ và được sấy bằng công nghệ phù hợp. Không hương liệu, không chất bảo quản, vị ngọt ở đây đến từ chính nắng gió Mộc Châu và dây chuyền sấy hiện đại của một HTX đã tạo ra 7 sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 3-4 sao.
OVN - Trên những con phố Hà Nội từ tờ mờ sáng, hình ảnh thúng xôi bốc khói thơm ngậy đã trở thành một phần không thể tách rời của ký ức người dân thủ đô. Đằng sau gánh xôi giản dị ấy là cả một làng nghề trăm năm tuổi đang chuyển mình mạnh mẽ. Năm 2025, bốn sản phẩm xôi đặc trưng của phường Phú Thượng chính thức đạt chứng nhận OCOP 3 sao. Đây là cột mốc quan trọng khẳng định vị thế của một di sản ẩm thực đang sống và phát triển ngay giữa lòng Thủ đô.
OVN - Không chọn con đường quen thuộc của nhiều phụ nữvùng cao, Lò Chúc Chi - cô gái người dân tộc Thái ở phường Mường Lay (Điện Biên) đã bắt đầu hành trìnhkhởi nghiệp từ chính những chiếc bánh truyền thốngcủa dân tộc mình. Từ gian bếp nhỏ của bản Thái, khẩu xén, chí chọp từng bước trở thành sản phẩm OCOP, mở ra sinh kế mới cho phụ nữ địa phương và giữ lại mộtphần hồn cốt văn hóa Tây Bắc.
Đầu hè, không khí tại những vùng quế Lào Cai vẫn không giảm đi sự nhộn nhịp. Từ sáng sớm, người dân đã tất bật vào rừng bóc vỏ, vận chuyển quế xuống núi để kịp các chuyến thu mua. Với nhiều gia đình, đây không chỉ là mùa lao động nhộn nhịp mà còn là thời điểm hái ra tiền từ loại cây được ví như “vàng xanh” của miền sơn cước.
Giữa cái nắng đầu hè, xã Mai Hạ (tỉnh Phú Thọ) hiện ra không phải bằng sự choáng ngợp, mà bằng một thứ quyến rũ rất chậm. Đồi núi xanh rì, những nếp nhà sàn nép mình bên sườn núi, và đâu đó trong không khí, một mùi hương dìu dịu vừa ấm, vừa sâu, như gọi người ta dừng lại lâu hơn. Đó là hương của rượu Láu Siêu, thứ “men rừng” đã theo chân người Thái ở xóm Chiềng Hạ đi qua bao mùa nương rẫy, bao biến thiên của thời gian.
Những cây chè Shan tuyết cổ thụ ở Tà Xùa không phải mới xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây. Chúng đã đứng đó hàng trăm năm, bám rễ vào sườn núi đá, lặng lẽ hút sương mù và gió lạnh của vùng cao Tây Bắc. Nhiều thế hệ người Mông vẫn quen gọi chúng bằng một cái tên giản dị: “chè rừng”. Nhưng trong mắt những người làm trà, đó là một kho báu thiên nhiên hiếm có - thứ “vàng xanh” của núi cao.
Từ tiềm năng của vùng chè di sản ấy, những năm gần đây, việc chế biến và xây dựng thương hiệu đã bắt đầu mở ra con đường mới cho loại trà đặc biệt này. Khi doanh nghiệp vào cuộc, những búp chè Shan tuyết không còn chỉ là nguyên liệu thô bán cho thương lái, mà dần trở thành sản phẩm mang giá trị cao mang theo hương vị và câu chuyện của núi rừng Tà Xùa.
Có những vườn vừa lấp lánh quả, vừa thấp thoáng hoa, như thể mùa mận đang được “chia ca” thay vì ùa về trong chốc lát. Bằng tay nghề và kỹ thuật, người nông dân kéo dài vị ngọt để cả cao nguyên có thêm mùa đón khách. Trên cao nguyên Mộc Châu, cây mận hậu từ lâu không chỉ là loài cây đặc trưng của vùng đất sương mờ mà còn là nguồn sinh kế quan trọng của hàng nghìn hộ dân. Với gần 3.500 ha mận hậu, đây là một trong những cây trồng chủ lực mang lại thu nhập ổn định cho người dân địa phương. Nhưng thay vì chỉ trông chờ vào vụ thu hoạch truyền thống diễn ra trong tháng 5 và tháng 6, nhiều nông dân Mộc Châu đang chủ động “điều khiển mùa vụ”, đưa mận chín sớm và kéo dài thời gian thu hoạch đến tận tháng 8. Nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào canh tác, những vườn mận trái vụ hôm nay không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao mà còn mở ra thêm sức hút mới cho du lịch trải nghiệm trên cao nguyên xanh.
Giữa nhịp sống hiện đại, khi thị trường may mặc công nghiệp ngày càng phát triển với vô vàn mẫu mã, sắc màu và chất liệu, ở nhiều bản làng của tỉnh Điện Biên, phụ nữ dân tộc Lào vẫn đều đặn ngồi bên khung cửi mỗi ngày. Tiếng thoi đưa vang lên trong những ngôi nhà sàn không chỉ là âm thanh của lao động, mà còn là nhịp giữ gìn bản sắc văn hóa đã được truyền qua nhiều thế hệ.
Ở vùng núi Cao Sơn, khi mùa mướp đi qua, trên những hàng rào gỗ và mái hiên nhà sàn thường còn sót lại vài quả mướp già khô quắt. Bao năm nay, người dân chỉ giữ lại để làm giống, hoặc tước xơ đem rửa bát. Chẳng ai nghĩ thứ nguyên liệu thô ráp như xơ mướp ấy có ngày trở thành tranh nghệ thuật, túi xách hay quà lưu niệm cho du khách.