Từ lượt xem đến đơn hàng: bài toán của OCOP
Ngày 19/10, Chi cục Phát triển nông thôn TP.HCM phối hợp với Báo Tuổi Trẻ tổ chức hội thảo “Chiến lược phát triển sản phẩm OCOP - Sứ mệnh Đại sứ thương hiệu trong kỷ nguyên số”, dưới sự chỉ đạo của Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM.
Tại đây, các chuyên gia đặt vấn đề: một video về đặc sản, sản phẩm OCOP có thể đạt hàng ngàn, thậm chí hàng triệu lượt xem, nhưng người xem có nhớ, tìm mua hay giới thiệu cho người khác hay không lại là chuyện khác.
![]() |
| Toàn cảnh hội thảo “Chiến lược phát triển sản phẩm OCOP - Sứ mệnh Đại sứ thương hiệu trong kỷ nguyên số” tại TP.HCM. |
TS. Dương Đức Minh, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế và Du lịch, cho biết sau sáp nhập, TP.HCM có hơn 1.000 sản phẩm OCOP còn hiệu lực và đặt mục tiêu có hơn 2.000 sản phẩm đạt từ 3 sao trở lên trong giai đoạn 2025-2030.
Tuy nhiên, sản phẩm nhiều hơn chưa chắc người tiêu dùng biết và chọn nhiều hơn. “Giá trị đã có nhưng câu chuyện chưa được kể”, ông nhận định.
Với doanh nghiệp du lịch, một danh mục sản phẩm đẹp, đầy đủ thông tin vẫn chưa đủ để quyết định hợp tác nếu thiếu kết nối trực tiếp với người sản xuất và cam kết đáng tin cậy về chất lượng, khả năng cung ứng.
ThS. Trương Hoàng Phương, Giám đốc Công ty Exotic Việt Nam, chỉ ra nhiều sản phẩm có nguồn gốc gắn với địa phương nhưng khi giới thiệu vẫn chủ yếu nói về công dụng, chất lượng, bao bì hoặc hạng sao.
Những câu chuyện về vùng nguyên liệu, kỹ thuật sản xuất, lịch sử nghề và cộng đồng làm ra sản phẩm chưa được khai thác tương xứng. Sản phẩm OCOP cũng chưa được đưa thường xuyên vào các chương trình du lịch, nhiều khi chỉ là món hàng bày bán ở điểm đến thay vì một phần của trải nghiệm. Ngoài ra, một số chủ thể còn hạn chế về quy mô sản xuất, nhân lực, bảo quản và khả năng đáp ứng đơn hàng lớn.
Để khắc phục, ông Phương đề xuất gắn sản phẩm với trải nghiệm cụ thể như tham quan vùng nguyên liệu, tìm hiểu quy trình chế biến, thực hành nghề hoặc thưởng thức đặc sản tại chỗ. Chẳng hạn, sản phẩm vùng biển Cần Giờ, Côn Đảo có thể được kể qua nghề biển, hệ sinh thái và đời sống cư dân; sản phẩm gốm sứ, sơn mài, nông sản, thực phẩm chế biến có thể kết nối với tham quan làng nghề, trải nghiệm sản xuất và du lịch ẩm thực.
![]() |
| Các diễn giả trao đổi cách để sản phẩm OCOP đến gần người tiêu dùng trên môi trường số. |
Từ góc nhìn người làm nội dung, nhiếp ảnh gia, nhà sáng tạo nội dung du lịch Ngô Trần Hải An (Quỷ Cốc Tử) cho rằng ngoài chất lượng và giá trị thương mại, câu chuyện về nguồn gốc, con người và quá trình làm ra sản phẩm là yếu tố giúp đặc sản để lại dấu ấn trong lòng công chúng.
Theo ông, mỗi sản phẩm OCOP có thể đại diện cho một nét văn hóa, một vùng đất, nên truyền thông cần làm nổi bật bản sắc ấy thay vì chỉ nói về công dụng hay giá bán.
Ông giới thiệu phương pháp “3 chạm”: chạm mắt, chạm tim và chạm tay. Hình ảnh phải thu hút để người xem dừng lại; câu chuyện tạo cảm xúc, sự đồng cảm; cuối cùng là khuyến khích người xem tìm hiểu, trải nghiệm, chia sẻ hoặc chọn mua.
Từ đó, ông gợi ý làm các video ngắn theo thông điệp “30 giây, một sản phẩm, một niềm tự hào”, mỗi video tập trung vào một câu chuyện hoặc chi tiết đặc sắc để người xem dễ nhớ.
Ông Hải An cũng đề xuất nối nội dung số với trải nghiệm thực tế, khuyến khích du khách đến vùng sản xuất, gặp người làm ra sản phẩm và tìm hiểu văn hóa địa phương. Mã QR có thể giúp người tiêu dùng tra cứu nguồn gốc, quy trình sản xuất và câu chuyện đằng sau mỗi sản phẩm.
Theo TS. Dương Đức Minh, TP.HCM có lợi thế là thị trường tiêu dùng lớn ngay tại chỗ, nhưng sản phẩm OCOP cũng phải cạnh tranh với nhiều thương hiệu trong và ngoài nước. Vì vậy, quảng bá không chỉ là đưa sản phẩm đến nhiều người hơn, mà còn phải tạo sự tin tưởng, khuyến khích người mua trải nghiệm và tiếp tục chọn lại.
Trên môi trường số, cần chú trọng đối thoại với khách hàng, cung cấp thông tin đáng tin cậy về nguồn gốc, chất lượng và người sản xuất. Câu chuyện thương hiệu cũng phải thể hiện được bản sắc và giá trị riêng của từng sản phẩm.
Tin khác

